• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch

  • PDF.

Bs Trần Lê Pháp - 

1. GIỚI THIỆU

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) có tần suất mắc bệnh khá dao động ở các nhóm bệnh nhân có mức độ suy giảm miễn dịch khác nhau. Tình trạng suy giảm miễn dịch có thể liên quan đến:

1) Thừơng tổn hàng rào cơ học hoặc rối loạn chức năng loại bỏ cơ học;

2) Rối loạn hệ vi sinh bình thường và hình thành các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh do sử dụng kháng sinh kéo dài;

3) Rối loạn chức năng và số lượng tế bào có thẩm quyền miễn dịch (ví dụ: Thực bào, tế bào lympho…).

Các bệnh nhân suy giảm miễn dịch dễ bị NKĐTN hơn, và các dấu hiệu nhiễm khuẩn có thể khác biệt so với quần thể chung. Nhiễm khuẩn có thể mắc phải từ cộng đồng hoặc trong bệnh viện. Một nghiên cứu tiến cứu với cỡ mẫu lấy liên tiếp trên 200 bệnh nhân nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) với tỷ lệ nam: nữ là 1:1,6, đến khám tại phòng khám ngoại trú của một bệnh viện ở Nigeria cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung là 26%, trong đó 15,8% ở nam và 32,3% ở nữ. Do có tình trạng suy giảm miễn dịch nên tần suất mắc bệnh NKĐTN trên bệnh nhân nhiễm HIV cao hơn so với người không nhiễm HIV, bệnh cũng thường gặp trên bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển hơn là bệnh nhân mới nhiễm HIV.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 06 Tháng 3 2024 09:35

Điều trị ngoại khoa nhồi máu tiểu não

  • PDF.

Bs Đoàn Kim Nhựt - 

Nhồi máu tiểu não mặc dù tương đối hiếm gặp (0,6% chấn đoán nhồi máu tiểu não trên CT), nhồi máu tiểu não được xem như là nhồi máu của động mạch tiểu não sau dưới (PICA)(Hạnh nhân tiểu não và/hoặc thùy nhộng), tiểu não trên (SCA)(nửa bán cầu tiểu não trên và phần trên thùy nhộng), hoặc nhồi máu những phần khác không xác định. Khoảng 80% bệnh nhân có dấu hiệu diễn tiến chèn ép thân não và sẽ chết, chỉ vài giờ hoặc vài ngày nếu không điều trị kịp thời.

DẤU HIỆU SỚM

Phần lớn các trường hợp khởi phát đột ngột không tiền tiệu, 12 giờ đầu sau khởi phát ít tiến triển. Dấu hiệu sớm là do chính thương tổn bên trong của tiểu não (nhồi máu hoặc xuất huyết).

Triệu chứng:

  • Xây xẩm mặt mày, chóng mặt.
  • Buồn nôn, nôn.
  • Mất thăng bằng, té ngã, không gượng đứng dậy được.
  • Đau đầu (không thường gặp).
  • Dấu hiệu:
  • Rối tầm.
  • Rung giật nhãn cầu.
  • Nói khó.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 02 Tháng 3 2024 15:33

Huyết khối tĩnh mạch và ung thư: đánh giá toàn diện từ sinh lý bệnh đến điều trị mới nhất (phần 2)

  • PDF.

BS. Huỳnh Thị Hoanh - 

5. Điều trị

5.1. Điều trị dự phòng huyết khối

Điều trị dự phòng huyết khối tĩnh mạch (VTE) là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng. Điều trị kéo dài bằng heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) hoặc thuốc chống đông đường uống trực tiếp (DOACs) ở bệnh nhân ung thư sau xuất viện giúp giảm biến cố VTE nhưng tăng nguy cơ chảy máu. Một vài thang điểm đã được phát triển để đánh giá nguy cơ VTE liên quan đến ung thư. Một phân tích tổng hợp và đánh giá hệ thống để kiếm tra hiệu quả của thang điểm Khorana trong dự đoán VTE ở hơn 34000 bệnh nhân mắc nhiều loại ung thư khác nhau. Trong 6 tháng đầu theo dõi, nguy cơ VTE ở bệnh nhân với điểm Khorana nguy cơ cao là 11%, cao hơn đáng kể so với điểm nguy cơ thấp (5%) và nguy cơ trung bình (6,6%). Những kết quả này cho thấy, thang điểm Khorana có thể hữu ích với bác sĩ lâm sàng trong sàng lọc bệnh nhân có nguy cơ VTE để điều trị dự phòng, nhất là những bệnh nhân có điểm Khorana >= 2 và nguy cơ chảy máu thấp.

Hơn nữa, Khorana và cộng sự đã phát triển một mô hình nguy cơ dựa trên năm biến số được đánh giá bằng nghiên cứu đoàn hệ ở 2701 bệnh nhân ung thư đang bắt đầu hóa trị. Những bệnh nhân với điểm nguy cơ lớn hơn 3(tức là thuộc nhóm nguy cơ cao) trước khi bắt đầu điều trị có khả năng hình thành VTE từ 6,7-7,1%. Bên cạnh đó, việc thêm dấu ấn sinh học thể dịch (như P-selectin > 53.1 ng/mL and D-dimer levels > 1.44 mg/mL) vào mô hình nguy cơ của Khorana cũng giúp cải thiện dự đoán biến cố huyết khối. Mô hình mở rộng này có độ nhạy 96% ở những bệnh nhân được đánh giá 1 điểm, do đó có thể loại trừ việc điều trị dự phòng huyết khối không cần thiết và độ đặc hiệu 98% ở những bệnh nhân có điểm cắt cao hơn (>=5) có thể nhận lợi ích từ việc dự phòng này. Một hạn chế của thang điểm mở rộng là những dấu ấn sinh học thể dịch này không phổ biến trên lâm sàng.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 28 Tháng 2 2024 16:23

Cập nhật hướng dẫn thực hành lâm sàng về quản lý viêm thận lupus loại III/IV theo KDIGO 2024

  • PDF.

Bs Đặng Thị Quỳnh Chi - 

Kể từ khi xuất bản “Bệnh thận: Cải thiện kết quả toàn cầu (KDIGO) Hướng dẫn thực hành lâm sàng năm 2021 để quản lý bệnh cầu thận”, (1) belimumab và voclosporin đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) phê duyệt như thuốc ức chế miễn dịch bổ sung cho dịch vụ chăm sóc tiêu chuẩn (SOC) để điều trị viêm thận lupus (LN) (2)(3). Những bổ sung này vào các phương pháp trị điều trị cho các bệnh nhân lupus với lời hứa về tỷ lệ phản hồi vượt trội so với SOC đơn thuần. Tuy nhiên, cùng lúc đó, sự sẵn có của các liệu pháp mới đã đặt ra những câu hỏi quan trọng rằng cách áp dụng chúng tốt nhất. Xét cho cùng, các liệu pháp mới rất tốn kém, chúng không làm giảm sự ức chế miễn dịch nhưng lại làm tăng nguy cơ phơi nhiễm và chúng yêu cầu những bệnh nhân trước đây từng gặp khó khăn trong việc tuân thủ dùng thuốc phải dùng nhiều thuốc hơn một cách thường xuyên. Có lẽ vấn đề gây chia rẽ nhất là xác định hồ sơ của một bệnh nhân Viêm thận Lupus cần nhiều hơn SOC và xem xét liệu belimumab hay voclosporin sẽ là tốt nhất cho cá nhân đó. Vì belimumab và voclosporin sẵn sàng thay đổi đáng kể cách tiếp cận quản lý Viêm thận Lupus , nên chương Viêm thận Lupus trong Hướng dẫn về Bệnh cầu thận KDIGO 2021 là chương đầu tiên được cập nhật.

Tthan

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 28 Tháng 2 2024 16:08

Bỏng hô hấp

  • PDF.

Bs Trương Minh Trí - 

ĐỊNH NGHĨA

Bỏng hô hấp là thuật ngữ đề cập đến tổn thương đường hô hấp hoặc mô phổi do nhiệt.

DỊCH TỄ HỌC

Vào năm 2020, các sở cứu hỏa địa phương ở Hoa Kỳ đã ứng phó với khoảng 1,4 triệu vụ cháy. Những vụ cháy này đã khiến 3500 người dân thiệt mạng và 15200 người bị thương do hỏa hoạn. Các biến chứng về phổi sau bỏng và tổn thương do đường hô hấp là nguyên nhân gây ra tới 77% số ca tử vong, trong đó phần lớn là do ngộ độc carbon monoxide. Bỏng hô hấp thường gặp sau bỏng và tỷ lệ mắc bệnh tăng theo quy mô vết thương bỏng và tuổi bệnh nhân. Ngoài ra, tổn thương do hít phải đã được chứng minh là một yếu tố độc lập dự báo tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân bỏng.

bonghh

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 28 Tháng 2 2024 16:08

Đọc thêm...

You are here Đào tạo