• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV (PEP)

  • PDF.

Bs Huỳnh Thị Tố Nữ - 

HIV là một loại vi rút tấn công hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nếu HIV không được điều trị, nó có thể dẫn đến AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải).

Một khi người ta nhiễm HIV, họ sẽ mang nó suốt đời.

Các đường lây truyền của HIV

  • Truyền qua tiếp xúc sinh dục
  • Truyền qua máu
  • Truyền từ mẹ sang con

Phơi nhiễm HIV là tình huống thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên không phải trường hợp phơi nhiễm nào cũng dẫn tới bị nhiễm HIV. Hiểu rõ thông tin về các tình huống phơi nhiễm và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) giúp chúng ta nắm được cách thức xử lý đúng và tận dụng thời gian vàng trong điều trị dự phòng.

1. PEP là gì?

PEP – Post-exposure Prophylasis là Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HIV, bằng cách dùng thuốc kháng HIV (thuốc ARV) cho những người bị phơi nhiễm với HIV. Việc này cần được thực hiện càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng 24 giờ và không muộn hơn 72 giờ sau phơi nhiễm.

Phơi nhiễm có thể xảy ra trong môi trường nghề nghiệp hoặc ngoài môi trường nghề nghiệp.

Xem tiếp tại đây

Phân loại mô bệnh học trên mẫu sinh thiết nhỏ u phổi, theo WHO 2021

  • PDF.

Bs Trần Thị Thùy Trang - 

1. Khái quát :

  • Nhấn mạnh nhiều hơn về tiến bộ trong vai trò của xét nghiệm sinh học phân tử.
  • Tiếp tục khuyến cáo về việc lưu trữ số liệu về các kiểu hình xâm lấn trong ung thư biểu mô tuyến dạng không chế nhầy, không xâm lấn để hệ thống phân giai đoạn TNM.
  • Cập nhật phân loại tân sinh thần kinh nội tiết phổi.
  • Ghi nhận u tuyến phế quản/ u nhú nhung mao chế nhầy là một phần mới hoàn toàn trong dưới nhóm u tuyến phổi.
  • Ghi nhận khối u không biệt hóa thiếu SMARCA4 ở lồng ngực.
  • Những mẫu u nhỏ nguyên phát hoặc di căn đến phổi được lấy thông qua nhiều phương pháp bao gồm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ, phết tế bào, như đờm, dịch rửa phế quản, dịch chải phế quản, dịch rửa phế quản- phế nang.
  • Với mẫu sinh thiết nhỏ và mẫu tế bào học, “ung thư phổi không tế bào nhỏ” nên được phân loại thành các loại rõ ràng, như là “ ung thư biểu mô tuyến” hoặc “ung thư biểu mô tế bào gai”
  • Danh pháp “ung thư phổi không tế bào nhỏ-NOS” nên dùng ít nhất có thể, chỉ khi chẩn đoán chưa được rõ ràng.
  • Danh pháp “ ung thư biểu mô tuyến tại chỗ” và “ ung thư biểu mô tuyến xâm lấn tối thiểu” không nên dùng cho chẩn đoán mẫu sinh thiết nhỏ và tế bào học. Nếu kiểu hình không xâm lấn hiện diện trong mẫu sinh thiết nhỏ, tốt hơn nên xếp chúng vào kiểu hình lepidic. Tương tự, nếu tế bào học có “ ung thư biểu mô tuyến tại chỗ”, sau đó khối u nên được chẩn đoán “ ung thư biểu mô tuyến”, kèm theo có thể nêu ra một phần là “ ung thư biểu mô tuyến tại chỗ”.
  • Thuật ngữ ung thư biểu mô tế bào lớn không nên dùng trong chẩn đoán mẫu sinh thiết nhỏ và tế bào học, nên được giới hạn ở mẫu cắt bỏ khối u đã được loại trừ thành phần biệt hóa.
  • Trong sinh thiết khối u có đặc trưng ung thư dạng trung mô ( nhân đa hình thái rõ ràng, tế bào khổng lồ ác tính, tế bào hình thoi) nên được phân loại như ban đầu đã đề cập trước đây thay thế cho “ung thư biểu mô tuyến; ung thư biểu mô phổi không tế bào nhỏ, ưu thế ung thư biểu mô tuyến , ung thư biểu mô tế bào gai, ung thư biểu mô phổi không tế bào nhỏ, ưu thế ung thư biểu mô tế bào gai. Nếu những đặc trưng trên không hiện diện, thuật ngữ ung thư phổi không tế bào nhỏ-NOS nên được sử dụng, mô tả có đặc trưng ung thư dạng trung mô.
  • Các dấu ấn hóa mô miễn dịch thần kinh nội tiết nên được làm ở những ca hình thái thật sư gợi ý đến ung thư thần kinh nội tiết.

Xem tiếp tại đây

Sốc chấn thương tại khoa Cấp Cứu

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hồng Hoa - 

Bệnh nhân chấn thương nặng đã và đang là vấn đề sức khỏe mà toàn thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, số bệnh nhân chấn thương nhập viện nhiều, trong đó số ca tử vong chiếm tỉ lệ cao, đây là một thách thức lớn đối với nước ta. Tử vong này có thể ngăn ngừa bằng cách phát hiện, tiếp cận sớm, can thiệp đúng, kịp thời vào những giờ vàng.

1. Định nghĩa, phân loại:

Sốc là một bất thường của hệ tuần hoàn dẫn đến sự tưới máu cơ quan và oxy mô không đầy đủ.

Sốc chấn thương bao gồm : Sốc mất máu và không do mất máu.

Ở đại đa số bệnh nhân chấn thương, sốc là do mất máu.

Sốc mất máu: hay gặp , từ 5 vị trí mất máu nhiều là:

  • Khoang ngực
  • Khoang bụng
  • Chậu, Sau phúc mạc
  • Gãy xương
  • Mất máu ra ngoài

Sốc không mất máu : 5 nguyên nhân

  • Chèn ép tim cấp
  • Tràn khí màng phổi áp lực
  • Sốc thần kinh
  • Sốc tim: Đụng dập tim, thuyên tắc khí
  • Sốc nhiễm khuẩn

socct

Xem tiếp tại đây

Rối loạn chức năng não do sepsis: sinh bệnh học, chẩn đoán và điều trị

  • PDF.

Bs Đinh Hồng Thảo - 

1. Tóm tắt

Sepsis được định nghĩa là rối loạn đáp ứng của vật chủ với nhiễm trùng, gây ra các rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng. Sepsis có thể gây ra rối loạn chức năng não cấp tính và dài hạn được gọi là bệnh não do sepsis (SAE) và suy giảm nhận thức. SAE đề cập đến những thay đổi về ý thức mà không có bằng chứng trực tiếp của nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương. SAE có tỉ lệ mắc cao và gây kết ục xấu ở bệnh nhân sepsis. Suy giảm nhận thức ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của bệnh nhân sepsis và làm tăng gánh nặng y tế. Sinh bệnh học của rối loạn chức năng não do sepsis được đặc trưng chủ yếu bởi sự tương tác của viêm hệ thống, rối loạn hàng rào máu não, viêm thần kinh, rối loạn chức năng vi tuần hoàn và rối loạn chức năng não bộ. Gần đây, việc chẩn đoán rối loạn chức năng não do sepsis dựa vào biểu hiện thay đổi ý thức kèm với thăm khám bệnh học thần kinh, việc điều trị chủ yếu liên quan đến kiểm soát sepsis. Mặc dù điều trị rối loạn chức năng não do sepsis đã được kiểm tra trên động vật, việc điều trị trên lâm sàng vẫn gặp khó khăn. Do đó, chúng tôi review cơ chế nền của tổn thương não do sepsis, tập trung chủ yếu vào tác động của viêm hệ thống lên hàng rào máu não, viêm thần kinh, vi tuần hoàn não và chức năng não bộ với mong muốn mang đến hướng đi dựa trên cơ chế mới cho các nghiên cứu lâm sàng và cơ bản trong tương lai với mục đích dự phòng hay cải thiện rối loạn chức năng não.

naosepsis

Hình 1: Sinh bệnh học của rối loạn chức năng não do sepsis

Đọc thêm...

Thang điểm aMAP và vai trò trong tiên lượng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan trên bệnh nhân viêm gan mạn tính

  • PDF.

Bs Lê Thị Bảo Ngọc - 

1. GIỚI THIỆU CHUNG

Với tầm nhìn “chấm dứt bệnh viêm gan virus”, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng là giảm 65% tỷ lệ tử vong liên quan đến viêm gan vào năm 2030. Với sự ra đời và phát triển các loại thuốc kháng virus như hiện nay, đặc biệt là nhóm thuốc kháng virus trực tiếp (DAAs), việc điều trị bệnh lý viêm gan virrus có nhiều tiến bộ vượt bậc. Tuy nhiên, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) vẫn còn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân viêm gan mạn tính và là nguyên nhân gây tử vong liên quan đến ung thư thường gặp thứ tư trên toàn cầu. Do đó, chìa khóa để đạt được mục tiêu toàn cầu do WHO đề xuất là giảm tỷ lệ tử vong do HCC liên quan đến viêm gan vi rus.

Sự thành công của điều trị HCC phần lớn phụ thuộc vào giai đoạn được chẩn đoán. Bệnh nhân bị HCC được chẩn đoán ở giai đoạn sớm có tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 70–75%, trong khi thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân mắc HCC tiến triển là dưới 1 năm. Một chương trình giám sát HCC hiệu quả và thành công có thể đưa ra chẩn đoán sớm và cải thiện tiên lượng. Vì vậy, có một công cụ giảm sát để xác định các bệnh nhân có nguy cơ mắc HCC khác nhau và sau đó cá nhân hóa việc giám sát HCC là điều tối quan trọng và cần thiết.

amap

Xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo