• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

AMH là gì?

  • PDF.

Bs Huỳnh Công - 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gần đây, xu hướng kết hôn và sinh con càng ngày càng muộn. Theo Tổng cục thống kê năm 2022, tuổi kết hôn trung bình lần đầu trên cả nước là 26,9 tuổi (nam 27,3 tuổi, nữ 26,5 tuổi). So với năm 2000, con số này đã tăng 4,8 tuổi đối với nam và 3,3 tuổi đối với nữ. Kèm theo đó, mối lo lắng về hiếm muộn cũng ngày càng tăng. Các chị em phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ kết hôn muộn, mong muốn có một chỉ số dự báo về khả năng sinh sản trong tương lai. Trên các phương tiện truyền thông và các trang mạng xã hội, AMH (Anti-Mullerian Hormone) được đưa ra như một chỉ số dự báo đáng tin cậy về chức năng sinh sản phụ nữ. Tuy nhiên AMH có thật sự hiệu quả, chúng ta cùng tìm hiểu ngay sau đây.

AMH LÀ GÌ?

Từ những năm 1940, A. Jost đã tìm ra một loại Protein, được hình thành trong tinh hoàn của động vật có vú, bao gồm cả con người và khác với testosterone. Nó các nhiệm vụ làm thoái lui ống Mullerian, nên nó được đặt tên là Anti-Mullerian Hormone (AMH) và hơn 40 năm sau thì AMH và các thụ thể của nó mới được phân lập. AMH hay còn gọi là hormone ức chế Mullerian, là một hormone glycoprotein thuộc siêu họ transforming growth factor beta (TGF-β) nó có vai trò chính là định hình giới tính trong thời kỳ bào thai nam giới và điều hòa quá trình chiêu mộ và phát triển nang noãn ở phụ nữ . AMH là một homodimer peptide, có khối lượng phân tử là 140 kDa, bao gồm hai tiểu đơn vị glycoprotein giống hệt nhau, được nối với nhau bởi các cầu nối disulfide. AMH liên kết với thụ thể loại 2 – AMHR2, thụ thể này sẽ phosphoryl hóa thụ thể loại I – AMHR1 theo con đường tín hiệu TGF-β.

amh1

Hình 1. Phân tử AMH liên kết với thụ thể của nó.

(Nguồn: http://www.pymol.org)

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 16 Tháng 7 2024 11:46

Thai bám sẹo mổ lấy thai – Cập nhật chẩn đoán và quản lý bước đầu

  • PDF.

Bs Đinh Thị Thu Trang - 

Thai bám sẹo mổ lấy thai (CSP- Cesarean Scar Pregnancy) là một biến chứng trong đó thai kỳ làm tổ vào sẹo mổ từ lần sinh trước. Tỷ lệ mắc CSP có xu hướng tăng lên cùng với tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng cao. Tình trạng này có liên quan đáng kể đến các biến chứng thai kỳ nặng và gia tăng tỷ lệ tử vong mẹ như băng huyết, nhau cài răng lược, vỡ tử cung ….., nên đặt ra những thách thức trong việc chẩn đoán sớm và có kế hoạch quản lý phù hợp.

Siêu âm là công cụ chính để chẩn đoán CSP, mặc dù việc xác định chính xác và kịp thời còn nhiều khó khăn.

Tuổi thai tối ưu để khảo sát, đánh giá thai bám sẹo mổ lấy thai là 6 – 7 tuần. Tuy nhiên khuyến nghị thời điểm áp dụng có thể trong 3 tháng đầu (đến 12 tuần). Đánh giá CSP được khuyến nghị cho tất cả phụ nữ đã từng mổ lấy thai trước đó.

thaiseomo 

Nguồn hình: Báo cáo chuyên đề Thai bám sẹo mổ lấy thai- Chỉ đạo tuyến BV Từ Dũ

Muốn biết thêm chi tiết xin mời đọc tại đây.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 03 Tháng 7 2024 14:51

Khuyến nghị của FIGO 2023 thực hành về kỹ thuật mổ lấy thai để cải thiện sự an toàn và giảm biến chứng

  • PDF.

Bs Nguyễn Thế Tuấn - 

GIỚI THIỆU

FIGO đang tích cực đóng góp vào nỗ lực toàn cầu nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và bệnh tật ở phụ nữ trên toàn thế giới. Mổ lấy thai nên được thực hiện khi nguy cơ sinh ngã âm đạo cao hơn nguy cơ sinh mổ. Tỷ lệ sinh mổ đã tăng trên toàn cầu và không có dấu hiệu chậm lại, từ khoảng 6% năm 1990 lên 19% năm 2014. Ở Nam Phi, trong ba năm 2005–2007, chảy máu liên quan đến sinh mổ là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tử vong mẹ liên quan đến xuất huyết. Tử vong có thể tránh được trong 71% trường hợp. Hai báo cáo ba năm một lần tiếp theo (2008– 2010 và 2011–2013) cho thấy tỷ lệ tử vong do chảy máu liên quan đến sinh mổ tăng thêm. Kỹ thuật mổ lấy thai chính xác và an toàn giúp cải thiện sự an toàn và giảm các biến chứng của thủ thuật là vô cùng quan trọng.

Giống như hầu hết các phẫu thuật, không có kỹ thuật tiêu chuẩn nào cho sinh mổ. Bài viết này trình bày các khuyến nghị thực hành tốt của FIGO về kỹ thuật chính xác để thực hiện sinh mổ dựa trên y học bằng chứng. Việc xử trí chảy máu trong mổ lấy thai cũng được thảo luận.

figo2023b

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 23 Tháng 6 2024 21:08

Bóc tách động mạch chủ cấp Stanford B: một số vấn đề quan tâm

  • PDF.

Bs. Lê Nhật Nam – 

Tổng quan

Bóc tách động mạch chủ là vấn đề phổ biến nhất của hội chứng động mạch chủ cấp tính. Mặc dầu, những tiến bộ hiện đại trong chăm sóc y tế và phẫu thuật, bóc tách động mạch chủ cấp tính vẫn là một tình trạng bệnh lý gây tử vong khá cao. Khoảng 1/3 số bệnh nhân không đến được bệnh viện. Trong số những người đến được bệnh viện để điều trị, tỷ lệ tử vong tại bệnh viện do bóc tách ĐMC cấp Stanford B (TBAD) là 15%.

Bóc tách ĐMC phân ra cấp tính (trong 14 ngày đầu) và mạn tính, với nhiều cách phân chia nhưng thường thì lấy mốc 2 tuần. Phân loại bóc tách ĐMC có nhiều phân loại, nhưng hay được biết đến là theo Stanford hoặc Debakey, phân loại theo Stanford là phổ biến và áp dụng rỗng rãi nhất. Phân loại Stanford hiện nay, không còn chú trọng nhiều vào vị trí lỗ rách nội mạc, mà dựa vào mức độ bóc tách có liên quan đến ĐMC lên và đoạn quai hay không.

boctach

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 24 Tháng 5 2024 17:32

Kháng nội tiết trong điều trị ung thư vú: Cơ chế và điều trị

  • PDF.

Bs. Phạm Tấn Trà - 

Tổng quan:

Ung thư vú (UTV) là loại ung thư hay gặp ở phụ nữ. Khoảng 70% u vú bộc lộ thụ thể estrogen, gồm 2 dạng đồng phân: ERα- là dạng chủ yếu ở UTV và đích của liệu pháp nội tiết (LPNT); ERβ - dường như có tác dụng ngược lại và ức chế sự tăng sinh tế bào phụ thuộc estrogen. Vì vai trò rõ ràng của ERα trong UTV nên trong bài này ER ý chỉ ERα.

LPNT là một trong những lựa chọn tối ưu nhất đối với bệnh có với ER dương tính, ngoại trừ bệnh nhân đang rơi vào khủng hoảng tạng. LPNT cổ điển bao gồm điều hoà chọn lọc thụ thể estrogen (selective ER modulators, SERMs) hoặc làm giảm lượng estrogen ( ức chế men aromatase (aromatase inhibitors-AIs): anastrozole; letrozole; exemestane). Trong khi SERMs, như tamoxifen hiệu quả ở cả phụ nữ còn kinh lẫn phụ nữ mãn kinh, AIs chỉ nên dùng lúc mãn kinh. Khi dùng AIs ở phụ nữ tiền mãn kinh, ức chế buồng trứng nên dùng đồng thời.

Thách thức lớn khi điều trị UTV ER dương tính là khắc phục tình trạng kháng nội tiết. Kháng LPNT nguyên phát được định nghĩa là bệnh tái phát trong vòng 2 năm đầu dùng LPNT bổ trợ hoặc tiến triển trong 6 tháng đầu dùng LPNT bước 1 điều trị UTV tiến triển hay di căn. Kháng LPNT thứ phát được xác định trong UTV giai đoạn sớm là tình trạng tái phát xảy ra sau ít nhất 2 năm điều trị nội tiết và trong năm đầu hoàn thành LPNT bổ trợ. UTV tiến triển hoặc di căn, kháng thứ phát được xác định là tiến triển sau hơn 6 tháng dùng nội tiết.

Bài này sẽ tập trùng vào cơ chế, dấu diệu kháng nội tiế, đồng thời nêu ra chiến lực điều trị kháng LPNT hiện tại và tương lai.

khangnoitiet

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 24 Tháng 5 2024 17:32

You are here Đào tạo Tập san Y học