• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM ĐÃ TRIỂN KHAI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH QUA SỐ ĐIỆN THOẠI 1900.969646 VÀ QUA TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA BV TẠI MỤC ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH ONLINE

Tập san Y học

Cường cận giáp thứ phát ở bệnh nhân bệnh thận mạn

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định - 

GIỚI THIỆU

Cường cận giáp thứ phát là tình trạng khá phổ biến của bệnh thận mạn và nặng hơn khi bệnh thận mạn tiến triển. Nó ảnh hưởng đến 40% người mắc bệnh thận mạn (CKD = Chronic Kidney Disease) giai đoạn 3 và 82% người mắc bệnh CKD giai đoạn 4. Việc quản lý và điều trị sớm bệnh cường cận giáp thứ phát là cấp thiết để bảo vệ sự toàn vẹn hệ xương và giảm vôi hóa mô mềm và mạch máu. Dưới đây là phần thảo luận về sinh lý bệnh và cách điều trị, bao gồm cả các lựa chọn thuốc và phẫu thuật đối với bệnh cường cận giáp thứ phát.

BỆNH NHÂN

Một bệnh nhân nam, 61 tuổi mắc bệnh bệnh thận mạn giai đoạn 4, bệnh thận đa nang chiếm ưu thế trên nhiễm sắc thể thường và tăng huyết áp được đánh giá để quản lý chuyển hóa khoáng. Creatinine máu của bệnh nhân 2,6 mg / dl, canxi máu 9,2 mg / dl, phospho máu 4,2 mg / dl, albumin là 4,1 g / dl, hormone tuyến cận giáp (PTH) 228 pg / ml và 25-hydroxyvitamin D [25 (OH) D] 18 ng / ml.

SINH LÝ BỆNH CỦA CƯỜNG CẬN GIÁP THỨ PHÁT

Hình 1 minh họa rằng sinh lý bệnh của cường cận giáp thứ phát rất phức tạp. Khi chức năng thận suy giảm, lượng phosphate được lọc giảm xuống, dẫn đến giảm bài tiết phosphate. Phosphat được giữ lại kích thích tế bào xương và nguyên bào xương tổng hợp yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-23 (FGF23), một trong những hormone liên quan đến việc duy trì cân bằng nội môi phosphate. FGF-23 liên kết với thụ thể 1 yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi, và khi có mặt của thụ thể cốt lõi αKlotho cần thiết, FGF23 làm giảm đồng vận chuyển phosphate phụ thuộc natri loại II NaPi2a và NaPi2c trong ống lượn gần của thận, do đó ức chế tái hấp thu phosphate và thúc đẩy phosphat niệu . Không may, cũng có sự giảm sản xuất Klotho với CKD tiến triển; do đó, hiệu quả của FGF23 / Klotho để điều chỉnh việc giữ lại phosphate bị hạn chế, và khi bệnh thận mạn tiến triển, có sự phát triển của tình trạng tăng phosphate máu quá mức, dẫn đến kích thích sản xuất FGF23 nhiều hơn nữa. Ngoài ra, cả 1,25-dihydroxyvitamin D [1,25 (OH) 2D] và PTH đều làm tăng sản xuất FGF23.

cangiap1

Hình 1: Sinh bệnh học cường cận giáp thứ phát

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 13 Tháng 1 2021 21:13

Bệnh lý tuyến giáp và thai kỳ

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định - 

PHẦN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể, có hình cánh bướm, thường nằm ở phía trước, dưới của cổ. Chức năng của tuyến giáp là tổng hợp và dự trữ hormon giáp. Khi được phóng thích vào máu, hormon giáp sẽ đến tác động tại các mô đích trong cơ thể.

Hormon giáp có vai trò quan trọng trong điều tiết chuyển hóa, điều chỉnh quá trình giải phóng năng lượng của cơ thể. Hormon giáp cũng ảnh hưởng đến sự phát triển trí não, hô hấp, tim và các chức năng hệ thống thần kinh, sinh nhiệt độ cơ thể, sức mạnh cơ bắp, da, chu kỳ kinh nguyệt, trọng lượng.…

Bệnh lý tuyến giáp rất đa dạng, đặc biệt phụ nữ thời kỳ mang thai đã làm thay đổi hoạt động sinh lý của tuyến giáp và có thể làm thay đổi quá trình diễn tiến bệnh tuyến giáp.

Bệnh lý tuyến giáp thời kỳ mang thai khá phổ biến và đa dạng, ảnh hưởng đến 1% đến 2% phụ nữ mang thai.

Khi người phụ nữ mang thai bị bệnh tuyến giáp sẽ có nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến người mẹ và thai nhi. Ở nước ta nguy cơ bị mắc bệnh tuyến giáp cao nhất là miền núi vì khu vực này nằm trong vùng thiếu iốt. Vì thế phát hiện và xử lý kịp thời bệnh tuyến giáp khi có thai sẽ giảm được các biến chứng nguy hiểm.

Việc điều trị bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ có thai còn phức tạp, cần có sự tham gia của thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và chuyên khoa sản.

thaigiap

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 07 Tháng 1 2021 10:18

Mười loại vi khuẩn kháng kháng sinh nguy hiểm nhất

  • PDF.

Khoa Vi Sinh - 

Hình thể của vi khuẩn

Vấn đề toàn cầu về kháng kháng sinh đang nhanh chóng trở thành một trong những vấn đề khoa học lớn của thời hiện đại. Việc phát triển các loại thuốc kháng sinh mới còn chậm chạp và khó khăn nhưng khả năng kháng thuốc của vi khuẩn nhanh chóng làm giảm số lượng các loại kháng sinh điều trị hiện có của chúng ta, tạo ra mối đe dọa thảm khốc vì các bệnh nhiễm trùng thông thường không thể điều trị được. Hành động phòng ngừa là cần thiết để giúp giảm sức đề kháng.. Các vi khuẩn được liệt kê dưới đây bao gồm một loạt các bệnh và mức độ kháng thuốc. Tất cả chúng đều là mối đe dọa đối với con người theo cách này hay cách khác. Một số, như bệnh lao chẳng hạn, đã là một thách thức lớn cần phải vượt qua và sẽ chỉ trở nên khó kiểm soát hơn khi tình trạng kháng thuốc kháng sinh của họ ngày càng tăng.

vkdk1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 31 Tháng 12 2020 16:58

Hội chứng cai rượu.

  • PDF.

Bs Huỳnh Minh Nhật - 

I. GIỚI THIỆU

Rượu là chất gây suy nhược hệ thần kinh trung ương. Rượu tăng tác dụng ức chế của axit gamma-aminobutyric (GABA) đồng thời ức chế tác dụng kích thích của Glutamate. Ở bệnh nhân nghiện rượu, chỉ sự hiện diện liên tục của rượu trong máu mới duy trì được cân bằng nội môi. Việc ngừng tiếp xúc với rượu đột ngột dẫn đến tình trạng hưng phấn của não vì các thụ thể trước đây bị rượu ức chế không còn bị ức chế nữa. Sự hưng phấn của não biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng nhẹ như mất ngủ, lo lắng và run rẩy đến các biến chứng nặng như co giật do cai rượu và mê sảng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Các triệu chứng cai rượu thường bắt đầu trong vòng 6 đến 24 giờ kể từ lần uống cuối cùng hoặc giảm đột ngột việc uống rượu. Các triệu chứng có thể xuất hiện ngay cả khi vẫn còn nồng độ cồn trong máu. Hội chứng cai rượu xảy ra phổ biến ở các bệnh nhân đang điều trị tại khoa nội, phẫu thuật và cấp cứu.

ruou1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 28 Tháng 12 2020 15:41

Vai trò của men chuyển angiotensine 2 (ACE2) trong COVID-19

  • PDF.

Bs Lê Văn Tuấn - 

Vào cuối năm 2019, một đợt bùng phát loại coronavirus mới (2019-nCoV) đã được báo cáo ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Sự bùng phát đã trở thành một đại dịch toàn cầu. Virus này dường như dễ lây lan hơn nhiều so với coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính (SARS) (SARS-CoV) và coronavirus hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) (MERS-CoV). 

Giải trình tự bộ gen có độ dài đầy đủ cho thấy 2019-nCoV chia sẻ 79,5% nhận dạng trình tự với SARS-CoV và phân tích trình tự protein theo cặp cho thấy nó thuộc nhóm coronavirus liên quan đến SARS. Cả 2019-nCoV và SARS-CoV xâm nhập vào tế bào chủ thông qua cùng một thụ thể, enzym chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2). Do đó, virus này sau đó được đổi tên thành SARS-CoV-2. Mặc dù tỷ lệ tử vong chung của COVID-19 do SARS-CoV-2 gây ra thấp hơn so với SARS và MERS, rối loạn chức năng cơ quan, chẳng hạn như hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), tổn thương tim cấp tính, tổn thương gan cấp tính và tổn thương thận cấp tính khá phổ biến trong các trường hợp nghiêm trọng. ACE2, một chất tương đồng của enzym chuyển đổi angiotensin (ACE), được biểu hiện trong nhiều cơ quan và mô của con người, có các hoạt động sinh học rộng rãi và có thể chống lại vai trò tiêu cực của hệ thống renin-angiotensin (RAS) trong nhiều bệnh. Xét rằng protein đột biến của SARS-CoV-2 tương tác với ACE2, cũng như của SARS-CoV, COVID-19 có thể có cơ chế gây bệnh tương tự như của SARS. Bài tổng quan này sẽ thảo luận về vai trò của ACE2 trong COVID-19, và các mục tiêu điều trị tiềm năng của nó, nhằm cung cấp thêm thông tin về việc quản lý bệnh dịch.

menchuyen1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 16 Tháng 12 2020 21:39

You are here Đào tạo Tập san Y học