• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo ngành y tế

Ung thư vú (p.3)

  • PDF.

Bs Trần Quốc Chiến - Khoa Ung bướu

Dịch từ: The Washington Manual of Oncology Third Edition

k vu1

PHẦN III

IV. Điều trị và tiên lượng.

A. Ung thư biểu mô ống tuyến tại chỗ.

DCIS là yếu tố dự báo trực tiếp của ung thư vú xâm nhập. Tần suất của DCIS đã tăng lên bởi việc sàng lọc bằng nhũ ảnh mà thường được chẩn đoán thông qua sự hiện diện của đám vi vôi hóa trong hơn 90% các trường hợp. Không thường gặp, bệnh nhân có một khối u, nốt, hoặc những thay đổi mô mềm khác. Mặc dù MRI có thể phát hiện một vài ổ bệnh mà những ổ bệnh này không thể thấy được bằng nhũ ảnh, nó cũng có thể bỏ sót một vài ổ bệnh thấy được bằng nhũ ảnh. Các phân nhóm bệnh học của DCIS là dạng mụn trứng cá, dạng có lỗ rây, vi nhú, nhú, và u đặc. Về mặt tiên lượng, chúng có thể được phân chia thành các phân nhóm dạng mụn trứng cá và không phải mụn trứng cá, mà dạng mụn trứng cá thường có liên quan đến tình trạng bệnh tái phát về sau. Hệ thống chỉ số tiên lượng Van Nuys đã được điều chỉnh (VNPI- Van Nuys prognostic index, bảng 13-1), mà đã đưa vào một vài yếu tố để dự báo khả năng tái phát sau phẫu thuật cắt bỏ tại chỗ, có lẽ có ích trong việc thực hiện quyết định lâm sàng.

Bảng 13-1. Chỉ số tiên lượng Van Nuys đã được điều chỉnh

ungthuvup31

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 16 Tháng 8 2019 20:51

Ung thư vú (p.2)

  • PDF.

Bs Trần Quốc Chiến - Khoa Ung bướu

Dịch từ: The Washington Manual of Oncology Third Edition

PHẦN II

II. Biểu hiện.

A. Tiền sử.

Triệu chứng thường gặp nhất là một khối u vú không đau. Một vài bệnh nhân có đau liên quan với khối u, tiết dịch núm vú một bên, thay đổi da ở bề mặt u vú, và co rút núm vú. Bệnh nhân có khối u vú trong thời gian dài có thể biểu hiện tình trạng loét u, và bệnh nhân có bệnh lý viêm sẽ phàn nàn về tình trạng vú “ấm hoặc nóng” và có hồng ban rõ.

B. Thăm khám thực thể.

Thăm khám cẩn thận tại vùng nên được thực hiện sau khi bệnh nhân đã cởi bỏ quần áo đến hông. Việc xem xét kỹ tại vùng nên bao gồm phức hợp núm vú và quầng vú đối với tình trạng loét, dày da, và tiết dịch núm vú không phải sữa; kích thước vú, sự cân xứng, và các khối u có thể nhìn thấy được; da thay đổi màu sắc và dày lên được gọi là phù da cam; và các hạch vùng nách và vùng thượng đòn có thể nhìn thấy được. Việc thăm khám tỉ mỉ nên được thực hiện với bệnh nhân ngồi ở bốn tư thế: cánh tay áp vào bên thân mình, cánh tay đưa lên quá đầu, tay chống vào hông, và tay đưa ra phía trước. Để sờ nắn vú của bệnh nhân, bệnh nhân phải nằm ngữa với cánh tay đưa lên quá đầu. Toàn bộ vú, bao gồm nếp của vú, phải được sờ nắn bằng cách sử dụng mặt lòng các ngón tay sờ theo các vòng tròn đồng tâm. Nếu một khối u vú được cảm nhận thì khi đó kích thước, hình dạng, vị trí, cảm giác đau khi sờ chạm, mật độ, và khả năng di động của nó phải được ghi chú. Nếu dịch núm vú được khêu ra bằng cách ép vào quần vú, thì khi đó màu sắc, mật độ và số lượng phải được ghi lại. Vùng nách, vùng dưới đòn và vùng thượng đòn phải được sờ nắn để tìm kiếm hạch ở tư thế ngồi với các cơ cánh tay được thả lỏng.

k vu1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 08 Tháng 8 2019 18:19

Điều trị ung thư vú khi mang thai

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh- Khoa Phụ Sản

Nếu một phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú khi mang thai, các lựa chọn điều trị sẽ phức tạp hơn vì mọi người sẽ muốn có được phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh ung thư đồng thời bảo vệ em bé. Phương pháp điều trị và thời gian điều trị sẽ được lên kế hoạch cẩn thận và phối hợp giữa nhóm chăm sóc ung thư , bác sĩ sản khoa và sơ sinh.

Mục tiêu điều trị cho phụ nữ mang thai bị ung thư vú cũng giống như điều trị cho một phụ nữ không mang thai: chữa ung thư bất cứ khi nào có thể, hoặc kiểm soát và giữ cho nó không lan rộng nếu không thể chữa khỏi. Nhưng mối quan tâm thêm việc bảo vệ thai nhi có thể làm cho điều trị trở nên phức tạp hơn.

Điều trị ung thư vú khi mang thai có an toàn?

Phụ nữ mang thai có thể điều trị ung thư vú một cách an toàn, mặc dù các loại điều trị được sử dụng và thời gian điều trị có thể bị ảnh hưởng bởi thai kỳ. Nếu đang mang thai mà mắc bệnh ung thư vú, các khuyến nghị điều trị sẽ phụ thuộc vào:

  • Kích thước của khối u
  • Vị trí khối u.
  • Nếu ung thư đã lan rộng thì lan đến đâu?
  • Tuổi thai?
  • Sức khỏe của mẹ
  • Sự lựa chọn của thai phụ

k vu thai

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 06 Tháng 8 2019 14:03

Ung thư vú (p.1)

  • PDF.

Bs Trần Quốc Chiến - Khoa Ung bướu

Dịch từ: The Washington Manual of Oncology Third Edition

PHẦN I

I. Khái quát

A. Dịch tễ học

Ở các nước đã phát triển, ung thư vú là bệnh lý ác tính được chẩn đoán thường gặp nhất ở phụ nữ và là nguyên nhân gây chết do ung thư đứng hàng thứ hai. Trong năm 2013, số ca ung thư vú mới ở Hoa Kỳ được ước đoán là 232.340 và số ca tử vong là 39.620. Phân tích dữ liệu SEER (Surveillance, Epidimiology, and End Result) đã cho thấy rằng tần suất ung thư vú là hằng định từ năm 1973 đến 1980. Trong các năm đầu 1980, tần suất đã tăng lên một cách nhanh chóng bởi do việc gia tăng phát hiện ung thư vú bằng sàng lọc với nhũ ảnh. Gần đây hơn, từ năm 2006 đến 2010, tần suất ung thư vú đã sụt giảm 2.3%. Tỷ lệ tử vong toàn bộ của ung thư vú đã đang sụt giảm trung bình 1.9% mỗi năm trên 10 năm qua do việc sàng lọc và điều trị bổ trợ tốt hơn.

k vu1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 04 Tháng 8 2019 08:21

Dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung

  • PDF.

BS Nguyễn Thị Kiều Trinh - Khoa Phụ Sản

Ung thư cổ tử cung (KCTC) là bệnh lý các tính của biểu mô lát hoặc biểu mô tuyến CTC, thường gặp ở độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở nữ giới.Tỷ lệ K CTC đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là phụ nữ chưa được sàng lọc định kỳ và chưa có hệ thống phát hiện sớm K CTC qua các xét nghiệm thích hợp, dễ tiếp cận, và khi phát hiện tổn thương tiền ung thư thì cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả.

duphongkctc

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 28 Tháng 6 2019 09:57

You are here Đào tạo Đào tạo ngành y tế