• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Y học thường thức

Sơ lược chẩn đoán và điều trị U nhú niệu mạc, tiềm năng ác tính thấp

  • PDF.

Bs CK1 Nguyễn Xuân Hiền - Khoa GPB

1. Định nghĩa: U nhú niệu mạc tiềm năng ác tính thấp (Papillary urothelial neoplasm of low malignant potential (PUNLMP) là tổn thương dạng nhú, tổn thương tiền ung của niêm mạc đường tiết niệu (bao gồm niêm mạc niệu đạo, bàng quang, niệu quản)

2. Dấu hiệu và triệu chứng:

PUNLMP có thể có tiểu máu vi thể hoặc đại thể, hoặc không có triệu chứng gì.

3. Chẩn đoán:

PUNLMP có thể phát hiện tổn thương bằng nội soi bàng quang, chẩn đoán xác định trên sinh thiết, xét nghiệm mô bệnh học.

unhu

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 20 Tháng 10 2019 09:02

Kiểm soát nhiễm khuẩn đối với một số bệnh truyền nhiễm

  • PDF.

CN Hoàng Thị Thu Mười

1. Bệnh thương hàn

Căn nguyên: Salmonella typhy

Lây truyền: Qua thực phẩm, nước uống, tiếp xúc với xúc vật nhiễm bệnh, lây truyền từ người sang người qua đường phân miệng.

Thời gian ủ bệnh: 3-60 ngày, thường 7-14 ngày.

Xét nghiệm chuẩn đoán

          Nuôi cấy phân, máu, nước tiểu hoặc dịch tuỷ xương. Xét nghiệm Widal cho gợi ý chẩn đoán nhưng có thể gặp kết quả dương tính và âm tính giả, vì thế xét nghiệm này có độ tin cậy không cao.

Các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát

         Áp dụng biện pháp dự phòng chuẩn nhìn chung là có hiệu quả. Tuy nhiên, dự phòng tiếp xúc cần áp dụng đối với các bệnh nhân đang quấn tã lót và/hoặc tiêu chảy không tự chủ. Trẻ em đang bị bệnh không được tới nơi tập trung đông trẻ em (nhà trẻ, trường học) cho tới khi xét nghiệm 3 mẫu liên tiếp kể từ khi ngừng điều trị kháng sinh cho kết quả âm tính đối với S. typhi.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 05 Tháng 10 2019 14:30

Sốt lợn châu Phi (African-swine-fever)

  • PDF.

Bs Trương Thị Kiều Loan - Khoa Vi Sinh

Sốt lợn châu Phi (African-swine-fever: ASF) là một bệnh do virus gây bệnh xuất huyết rất dễ lây lan ở lợn nhà và lợn hoang dã, chịu trách nhiệm cho những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và sản xuất.

Nó được gây ra bởi một loại virus DNA lớn thuộc họ Asfarviridae, cũng lây nhiễm ve của chi Ornithodoros.

Mặc dù các dấu hiệu của ASF và sốt lợn cổ điển (Classical Swine Fever CSF) có thể giống nhau, virus ASF không liên quan đến virus CSF.

ASF là một loại bệnh được liệt kê trong Bộ luật Sức khỏe Động vật trên cạn của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE Terrestrial Animal Health Code, and OIE Manual of Diagnostic Tests and Vaccines for Terrestrial Animals OIE ) và phải được báo cáo cho OIE.

sotlon1

Bản đồ dịch tể tình hình nhiễm sốt lợn châu Phi 6 tháng đầu năm 2019

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 02 Tháng 10 2019 10:15

Đo thông khí phổi và làm test hồi phục phế quản

  • PDF.

BS.Nguyễn Thị Hồng Lê- Nội tổng hợp

đo cnhh

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 02 Tháng 10 2019 09:14

Việc sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu trong quản lý thoái hóa khớp gối

  • PDF.

BS. Nguyễn Thị Hồng Lê-Nội tổng hợp

(The use of PRP injections in the management of knee osteoarthritis)

Khái quát

Thoái hóa khớp(Osteoarthritis - OA) là một bệnh thoái hóa liên quan đến tổn thương khớp, thường ảnh hưởng đến khớp gối và / hoặc khớp háng.

Thoái hóa khớp háng và khớp gối đã được xếp hạng cao thứ 11 trong tình trạng khuyết tật toàn cầu và cao thứ 38 trong những năm sống trong tình trạng khuyết tật (Cross et al. 2014 ). Tình trạng khuyết tật liên quan đến viêm khớp gối dẫn đến gánh nặng kinh tế đáng kể, cả về chi phí trực tiếp liên quan đến điều trị, đặc biệt là phẫu thuật thay khớp và chi phí gián tiếp liên quan đến công việc, bao gồm mất năng suất (Murphy và Helmick 2012 ). Thoái hóa khớp gối ảnh hưởng từ 6% đến 40% dân số nói chung (Michael et al. 2010 ) và tăng đáng kể ở những vận động viên ưu tú đã nghỉ hưu, với tỷ lệ lưu hành cao tới 95% (Gouttebarge et al. 2015). Gánh nặng toàn cầu của viêm khớp gối, theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011), tương đương với bệnh nhân rối loạn nhịp tim, xơ gan hoặc bệnh thận giai đoạn IV (Mather III et al. 2013 ).

Chiến lược quản lý thoái hóa khớp gối bao gồm cải thiện chức năng, giảm thiểu khuyết tật, giảm đau và do đó cải thiện chất lượng cuộc sống (Ng et al. 2012 ; Xing et al. 2017). Các phương pháp tiếp cận hiện tại tập trung vào việc ngăn chặn hoặc trì hoãn sự tiến triển bằng cách phát triển các thủ tục ít xâm lấn hơn hoặc áp dụng các biện pháp can thiệp sớm hơn khi khởi phát bệnh (Zhang et al. 2008). Các can thiệp điều trị không phẫu thuật liên quan đến tiêm nội khớp ở khớp gối, bao gồm axit hyaluronic (HA), corticosteroid, huyết tương giàu tiểu cầu (PRP), thuốc chống viêm không steroid (NSAID), vật lý trị liệu trong quản lý viêm khớp gối (Campbell và cộng sự 2015 ).

Trong thực hành lâm sàng, PRP được sử dụng để cho phép ứng dụng các protein có nguồn gốc từ huyết tương và tiểu cầu vào vị trí mong muốn với việc sử dụng một khung thích hợp để hỗ trợ sửa chữa mô bị tổn thương (Marx 2001 ). Lý do của PRP trong khung là tận dụng số lượng lớn các yếu tố tăng trưởng có trong tiểu cầu để thúc đẩy tái tạo sụn; tuy nhiên, việc sử dụng khung tăng cường PRP vẫn còn ở trạng thái sơ bộ, với mức độ khoa học thấp (Kon et al. 2013). Trong ứng dụng chondrocytes, các yếu tố tăng trưởng thúc đẩy tổng hợp ma trận, tăng trưởng và di chuyển tế bào và tạo điều kiện sao chép protein. Sự giải phóng sinh lý của các yếu tố có nguồn gốc tiểu cầu trực tiếp tại vị trí của bệnh sụn, đặc biệt là quan tâm đến viêm khớp gối, có thể kích thích tầng tín hiệu tái tạo tự nhiên và tăng cường chữa lành mô bằng phản ứng chống viêm tiếp theo (Mascarenhas et al. 2014 ).

Trong thoái hóa khớp, PRP đã được chứng minh ảnh hưởng đến các tế bào xâm nhập và xâm nhập, chủ yếu là tế bào hoạt dịch, tế bào nội mô, những tế bào liên quan đến miễn dịch bẩm sinh (như đại thực bào) và sụn và các thành phần tế bào xương (Mifune et al. 2013 ; Dhillon et al. 2017). Ngoài ra, PRP có thể ảnh hưởng đến quá trình viêm và tạo mạch và cân bằng đồng hóa và dị hóa trong sự hình thành sụn và làm thay đổi môi trường vi mô hiện có trong quá trình phát triển bệnh (Andia và Maffulli 2013 ).

Các tác dụng kết hợp của PRP làm cho nó trở thành một lựa chọn tiềm năng để quản lý thoái hóa khớp gối, đặc biệt là tác nhân giảm đau chính (Meheux et al. 2016 ). Điều này là do sự gia tăng của các nguyên bào xương, tế bào gốc trung mô dẫn đến giảm mức độ đau sau phẫu thuật (Ogino et al. 2006

Sử dụng PRP trong thoái hóa khớp gối

Việc sử dụng PRP trong điều trị thoái hóa khớp gối đã tăng lên trong những năm gần đây do biên độ an toàn cao và dễ dàng sản xuất và quản lý (Smith 2016 ). Bằng chứng khoa học tương phản tồn tại liên quan đến tiêm PRP cho thoái hóa khớp gối, với hiệu quả của tiêm PRP được báo cáo rộng rãi (Rahimzadeh et al. 2018 ). Hiệu quả nâng cao của PRP trong điều trị đau và chức năng khớp gối so với HA hoặc giả dược và kết quả dương tính trong tất cả các giai đoạn của viêm khớp gối (sớm, giữa và muộn), đã được báo cáo (Kanchanatawan et al. 2016 ; Dai et al. 2017 ; Cole và cộng sự 2017). Ngoài ra, tác dụng của PRP dường như kéo dài hơn và vượt trội so với các liệu pháp tiêm bắp (Prieto-Alhambra et al. 2014 ). So sánh giữa tiêm PRP nội khớp và giả dược và trị liệu HA ở thoái hóa khớp gối nhẹ và trung bình thường cho thấy kết quả lâm sàng cao hơn khi sử dụng PRP (Filardo et al. 2012a , b ). Tương tự, sử dụng phân tích tổng hợp để so sánh hiệu quả của việc tiêm PRP với giả dược hoặc các phương pháp điều trị khác để điều trị thoái hóa khớp gối (Bennell et al. 2017 ) đã báo cáo giảm đau nhiều hơn (Laudy et al. 2015 ) và cải thiện chức năng (Chang et al. 2014) với việc sử dụng PRP. Tuy nhiên, đây là cái giá của sự gia tăng các tác dụng phụ không đặc hiệu (Khoshbin et al. 2013 ) .

Sử dụng PRP đã được ủng hộ như là một lựa chọn điều trị trong tất cả các giai đoạn của thoái hóa khớp gối. Tiêm PRP nội khớp ở bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc giảm đau, cải thiện triệu chứng và QoL (Gobbi et al. 2012 ). Điều này có thể là do sự giải phóng tức thời và bền vững của các yếu tố tăng trưởng trong một thời gian dài, giúp tăng cường chữa lành dẫn đến hiệu quả lâm sàng kéo dài (Dhillon et al. 2017 ). Trong thoái hóa khớp gối vừa phải, tình trạng chức năng và đau đã được cải thiện với tối thiểu hai lần tiêm (Kavadar et al. 2015 ). Trong thoái hóa khớp gối giai đoạn cuối, có thể chỉ cần tiêm nội khớp PRP duy nhất để giảm đau hiệu quả, do đó cải thiện các hoạt động của cuộc sống hàng ngày và chất lượng cuộc sống (Joshi Jubert et al. 2017 ).

Tóm lược từ Cell and Tissue Research. May 2019, Volume 376, Issue 2, pp 143–152| Cite as

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 02 Tháng 10 2019 09:13

You are here Tin tức Y học thường thức