• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

THỰC HIỆN 5 K (KHẨU TRANG- KHỬ KHUẨN-KHOẢNG CÁCH-KHÔNG TỤ TẬP-KHAI BÁO Y TẾ) --- TIÊM VẮC XIN PHÒNG COVID-19 LÀ QUYỀN LỢI ĐỐI VỚI BẢN THÂN, LÀ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG --- BVĐK TỈNH QUẢNG NAM ĐÃ TRIỂN KHAI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH QUA SỐ 1900.969646 VÀ QUA TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TẠI MỤC ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH ONLINE

Bệnh viêm vùng chậu

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

1.Bệnh viêm vùng chậu là gì?

Bệnh viêm vùng chậu (Pelvic inflammatory Diseases -  PID) là một bệnh nhiễm trùng ở cơ quan sinh sản nữ. PID được chẩn đoán ở hơn 1 triệu phụ nữ mỗi năm ở Hoa Kỳ.PID xảy ra khi vi khuẩn di chuyển từ âm đạo và cổ tử cung lên trên vào tử cung , buồng trứng hoặc ống dẫn trứng . Vi khuẩn có thể dẫn đến áp xe trong ống dẫn trứng hoặc buồng trứng. Các vấn đề lâu dài có thể xảy ra nếu PID không được điều trị kịp thời. 

2. Nguyên nhân nào gây ra bệnh viêm vùng chậu?

Hai bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) - bệnh lậu và chlamydia - là những nguyên nhân chính gây ra PID. Bệnh lậu và chlamydia có thể gây ra các triệu chứng mơ hồ hoặc thậm chí không có triệu chứng ở phụ nữ. Khi một người phụ nữ bị nhiễm bệnh lậu hoặc chlamydia và không được điều trị, có thể mất vài ngày đến vài tuần trước khi cô ấy phát triển PID. PID cũng có thể do nhiễm trùng không lây truyền qua đường tình dục, chẳng hạn như viêm âm đạo do vi khuẩn.

viemvungchau

3. Những ảnh hưởng lâu dài của bệnh viêm vùng chậu là gì?

PID có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng, lâu dài:

  • Vô sinh — Cứ 10 phụ nữ bị PID thì có 1 người bị vô sinh. PID có thể gây ra sẹo ở ống dẫn trứng. Vết sẹo này có thể làm tắc vòi trứng và ngăn không cho trứng được thụ tinh.
  • Mang thai ngoài tử cung - PID cũng có thể ngăn cản trứng đã thụ tinh di chuyển vào tử cung. Thay vào đó, nó có thể bắt đầu phát triển trong ống dẫn trứng. Ống có thể bị vỡ (vỡ) và gây chảy máu vào bụng và xương chậu đe dọa tính mạng. Có thể cần phải phẫu thuật khẩn cấp nếu thai ngoài tử cung không được chẩn đoán sớm.
  • Đau vùng chậu mãn tính —PID có thể dẫn đến đau vùng chậu kéo dài.

4. Những ai có nguy cơ mắc bệnh viêm vùng chậu?

PID có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi ở phụ nữ đang hoạt động tình dục. Nó phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ. Những người dưới 25 tuổi có nhiều khả năng bị PID hơn. Phụ nữ có các yếu tố nguy cơ sau đây cũng có nhiều khả năng bị PID:

  • Nhiễm STI, thường là bệnh lậu hoặc chlamydia
  • Nhiều bạn tình (càng nhiều bạn tình, nguy cơ càng lớn)
  • Bạn tình quan hệ tình dục với người khác
  • PID trước đây

Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ thường xuyên thụt rửa có nguy cơ mắc PID cao hơn. Thụt rửa có thể khiến vi khuẩn gây PID phát triển dễ dàng hơn. Nó cũng có thể đẩy vi khuẩn lên tử cung và ống dẫn trứng từ âm đạo. Vì lý do này và các lý do khác, việc thụt rửa không được khuyến khích.

5. Các triệu chứng của bệnh viêm vùng chậu là gì?

Một số phụ nữ bị PID chỉ có các triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng gì. Những dấu hiệu và triệu chứng phổ biến nhất của PID:

  • Tiết dịch âm đạo bất thường
  • Đau vùng bụng dưới (thường đau nhẹ)
  • Đau vùng bụng trên bên phải
  • Chảy máu kinh nguyệt bất thường
  • Sốt và ớn lạnh
  • Đi tiểu đau
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Đau khi giao hợp

Có một trong những dấu hiệu hoặc triệu chứng này không có nghĩa là bạn bị PID. Đó có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng khác, chẳng hạn như viêm ruột thừa hoặc thai ngoài tử cung. Bạn nên liên hệ với bác sĩ phụ khoa nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào trong số này.

6. Bệnh viêm vùng chậu được chẩn đoán như thế nào?

Để tìm hiểu xem bạn có bị PID hay không, bác sĩ phụ khoa sẽ hỏi về tiền sử bệnh của bạn, bao gồm thói quen tình dục, phương pháp ngừa thai và các triệu chứng của bạn. Nếu bạn có các triệu chứng PID, bạn sẽ cần phải khám phụ khoa .  Bác sĩ phụ khoa có thể yêu cầu các xét nghiệm về khí hư, tế bào âm đạo, xét nghiệm máu, siêu âm , và trong một số trường hợp có thể chụp CTscans, sinh thiết nội mạc tử cung, nội soi ổ bụng nếu cần thiết.

7. Bệnh viêm vùng chậu điều trị như thế nào?

 Nhiễm trùng càng lâu không được điều trị, càng có nguy cơ mắc các vấn đề lâu dài, chẳng hạn như vô sinh. PID được điều trị đầu tiên bằng thuốc kháng sinh.  Hai hoặc nhiều loại thuốc kháng sinh có thể được kê đơn. Chúng có thể được dùng dưới dạng thuốc viên, hoặc bằng cách tiêm. Bác sĩ phụ khoa có thể lên lịch tái khám 2–3 ngày sau khi điều trị để kiểm tra sự tiến triển của bạn. Đôi khi các triệu chứng biến mất trước khi nhiễm trùng được chữa khỏi. Nếu có, bạn vẫn nên dùng tất cả các loại thuốc miễn là nó được kê đơn.

Một số phụ nữ có thể cần được điều trị tại bệnh viện. Có thể đề nghị nằm viện cho những trường hợp sau.

  • không có chẩn đoán rõ ràng
  • đang mang thai
  • phải uống kháng sinh IV
  • bị bệnh nặng
  • buồn nôn và nôn mửa
  • bị sốt cao

bị áp xe trong ống dẫn trứng hoặc buồng trứng. Trong một số tình huống nhất định, chẳng hạn như khi phát hiện thấy áp xe, có thể cần phẫu thuật.

Bạn tình của phụ nữ phải được điều trị. Phụ nữ bị PID có thể có bạn tình bị bệnh lậu hoặc chlamydia. Một người có thể bị STIs này ngay cả khi không có dấu hiệu bệnh tật.

8. Làm thế nào để ngăn ngừa bệnh viêm vùng chậu?

Để giúp ngăn ngừa PID, hãy thực hiện các bước sau để tránh STI:

  • Sử dụng bao cao su mỗi khi quan hệ tình dục để ngắn ngừa STI. Sử dụng bao cao su ngay cả khi bạn sử dụng các phương pháp ngừa thai khác.
  • Chỉ quan hệ tình dục với bạn tình không bị STI và chỉ quan hệ tình dục với một người.
  • Hạn chế số lượng bạn tình của . Nếu bạn hoặc đối tác của bạn đã từng có bạn tình trước đó, nguy cơ mắc STI của bạn sẽ tăng lên.

Nguồn: Pelvic Inflammatory Disease (PID), Copyright August 2019 by the American College of Obstetricians and Gynecologists.

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 21 Tháng 9 2020 22:06

You are here Tin tức Y học thường thức Bệnh viêm vùng chậu