• Phone:0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Từ ngày 21/10/2020 Bệnh viện triển khai hình thức đặt lịch khám bệnh qua trang web BV và qua điện thoại số 1900.969646, trân trọng thông báo cùng quý khách hàng!

Hội chứng phế quản

  • PDF.

CN Nguyễn Minh Nhựt - Khoa CĐHA

Các dấu hiệu trực tiếp

Dày thành phế quản: thành phế quản bình thường chỉ thấy được ở phế quản gốc bên phải và thân phế quản trung gian, hoặc thấy được hình vòng trong hình súng hai nòng gần rốn phổi, trên phim phổi thường. Trên phim CLVT lớp mỏng, thành phế quản mỏng và đều, thấy được ở 2/3 trong, tương ứng với các phế quản phân thùy hoặc hạ phân thùy, khó thấy ở tiểu phế quản tận cùng.

Dày thành phế quản có nhiều nguyên nhân:

-  Phù nề tổ chức kẻ quanh phế quản, đồng thời là triệu chứng của hội chứng kẻ

- Thâm nhiễm tế bào ở niêm mạc phế quản.

- Xơ hóa ở thành phế quản.

hcpq1

Dày thành phế quản cho các hình ảnh khác nhau tùy tương quan giữa trục phế quản và chùm tia X bao gồm:

- Hình đường tàu lửa: là hai đường mờ song song tạo nên ống sáng ở giữa nhỏ dần về phía ngoại vi phổi. Hình đường tàu lửa đi kèm với dãi mờ mạch máu, có thể thấy mạch máu phân nhánh.

- Hình vòng phế quản bên cạnh bóng mờ tròn của mạch máu đi kèm, trong hình súng hai nòng, khi trục của chúng song song với chủm tia X.

- Hình phổi bẩn do dày thành phế quản, nhưng không thấy được trực tiếp.

Chụp CLVT cho thấy rõ dày thành phế quản, kèm theo giãn phế quản hay không.

Giãn phế quản

Trên phim phổi thường hình ảnh đường tàu lửa và hình vòng có khẩu kính lớn hơn khẩu kính bình thường của mạch máu đi kèm. Thành phế quản mất tính chất song song và dày không đều. Thể giãn phế quản nặng có thể thấy hình các kén nhỏ với mức dịch do tiết dịch.

Trên CLVT khẩu kính phế quản được so sánh với khẩu kính của mạch máu đi kèm. Chẩn đoán giãn phế quản khi khẩu kính của phế quản lớn hơn của mạch máu. Cũng như trên chụp phế quản cản quang, giãn phế quản được phân loại: Giãn phế quản hình trụ, hình kén, hình giãn tĩnh mạch.

  • Giãn phế quản hình trụ tạo nên các ống sáng chia nhánh, hoặc nhiều hình vòng liên tiếp nhau trên nhiều lớp cắt
  • Giãn phế quản kiều giãn tĩnh mạch cho hình ảnh chuỗi ngọc là những đoạn giãn xen kẻ những đoạn hẹp.
  • Giãn phế quản kiểu kén tạo nên những hốc thành dày.

Các nguyên nhân giãn phế quản thường gặp:

  • U lành hay u ác tính phế quản.
  • Lao sơ nhiễm, lao phế quản, lao xơ hang.

Ứ đọng phế quản

Tăng tiết dịch trong lòng phế quản do hai cơ chế: Bất thường vận động khí quản hoặc bất thường chất lượng hay chất lượng chất bài tiết phế quản. Hậu quả tạo nên nút nhầy bất thường gây ra giãn phế quản và biến dạng phế quản do thành phế quản bị ăn mòm hoặc tiêu hủy. 

Các nguyên nhân thông thường gây nên nút nhầy gồm hen, viêm phế quản mãn mucoviscidose, sởi, thủy đậu nấm phế quản phổi.

Tắc phế quản gây ứ dịch và giãn phế quản

Ứ đọng phế quản cho hình ảnh những dãi mờ hình ngón gan tay, hình V hay Y. Phế quản ứ đọng song song với chủm tia X sẽ cho hình nốt mờ tròn như mạch máu hay nốt mờ kẻ, phế bào. Trên CLVT ứ đọng phế quản cũng cho hình ảnh dãi mờ chia nhánh theo cây phế quản.

Vôi hóa thành phế quản

Thường thấy ở người già do vôi hóa thành phế quản và được xem như trong giới hạn bình thường. Sỏi phế quản được thấy trong bệnh lao, các hạch lao vôi hóa có thể di chuyển qua thành vào lòng phế quản. Triệu chứng này thay đổi tùy theo mức độ hẹp phế quản.

2. Các dấu hiệu gián tiếp

Xẹp phổi: phổi bị xẹp giảm thể tích, tăng độ mờ trên phim.

Cơ chế xẹp phổi: Có 5 cơ chế xẹp phổi

  • Xẹp phổi do tắc phế quản, có thể tắc một phế quản lớn hay nhiều phế quản nhỏ.
  • Xẹp phổi thụ động do chèn ép phổi. Nguyên nhân từ màng phổi như tràn dịch, tràn khí, dày dính màng phổ; từ thành ngực như mảng sườn di động, liệt cơ hoành; từ trung thất như tim lớn, khối u, từ nhu mô phổi như giãn phế quản, kén phổi.
  • Xẹp phổi do sẹo, Xơ sẹo co kéo nhu mô phổi gây hẹp các phế quản xa và đồng thởi giãn các phế quản gần. Các nguyên nhân thường gặp là lao phổi, huyết khối phổi, bụi phổi hoặc các bệnh khác gây sẹo nhu mô phổi.
  • Xẹp phổi do rối loạn chất tạo sức căng bề mặt làm xẹp các phế bào trong khi các phế quản vẫn thông khí. Cơ chế xẹp phổi này thấy trong bệnh màng trong trẻ sơ sinh, bệnh phổi sau xạ trị, sau gây mê toàn thân (do thay đổi các điều kiện thông khí trong khi gây mê toàn thân lảm rối loạn chất tạo sức căng bề mặt). Loại xẹp phổi này thấy ở đáy phổi và hồi phục sau vài ngày.
  • Xẹp phổi do cuộn (Xẹp phổi tròn Handtke, u màng phổi, hội chứng Blesovsky). Do tràn dịch hay tràn khí màng phổi đẩy phổi vào trong tạo nên khe tiểu thùy phổi, trong khe có lá tạng màng phổi bị cuộn vào kèm nhu mô phổi, nhu mô phổi bị cuộn theo xẹp lại (thụ động). Tại khe này sẽ xuất hiện dày dính màng phổi, làm cho phần phổi bị cuộn và xẹp không trở lại vị trí bình thường như mô lân cận.

Các dấu hiệu xẹp phổi trực tiếp.

Bóng mờ do phổi xẹp. Đôi khi thấy cây phế quản khí nếu phế quản nào còn thông khí. Trong thể điển hình bóng mờ hình tam giác tương ứng với thùy hoặc phân thùy phổi, đỉnh ở rốn phổi, đáy ở thành ngực hoặc ở cơ hoành, bờ lõm và rõ nét.

 hcpq2

hcpq3

 hcpq4

Nguồn:

  1. Chẩn đoán hình ảnh hô hấp – PGS TS Lê Trọng Khoan.
  2. Diagnostic _thoracic _imaging 2009 – Wallace T. Miller
  3. Chest Radiology: The Essentials, 2nd Edition, 2010.  Jannette    Collins MD, MEd, FCCP - Professor of Radiology and Medicine.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 18 Tháng 9 2016 19:45

You are here Tin tức Y học thường thức Hội chứng phế quản