• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Điều trị kháng sinh theo chỉ dẫn procalcitonin cho bệnh nhân nhiễm trùng tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (P.2)

  • PDF.

Bs CK1 Hồ Ngọc Ánh - ICU

Xác định mức độ phù hợp để không tiếp tục kháng sinh

Khi thử nghiệm ProGuard được chứng minh, việc tìm giá trị thích hợp để ngừng kháng sinh là công việc quan trọng nhưng giá trị này hiện vẫn chưa biết. Thử nghiệm Nobre chỉ ra một mức  0,25 µg /L là an toàn để dừng kháng sinh, vì không có nhiễm trùng tái phát đã được báo cáo sau khi ngừng thuốc kháng sinh ở mức đó. Tuy nhiên, mức độ cao hơn 0,5 µg/L cũng đã được chứng minh là an toàn, không có nhiễm trùng tái phát báo cáo ở mức đó, và mức độ đó cũng cho phép giảm đáng kể trong việc sử dụng kháng sinh. Với mức đặt quá thấp ở 0,1 ng/mL, như trong thử nghiệm ProGuard, không có lợi ích đáng kể đã được quan sát.

anh11

Dựa trên các kết quả của tất cả các thử nghiệm ngẫu nhiên kết hợp, mức độ giới phù hợp để dừng thuốc kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn trong tại ICU dường như là một nồng độ trong huyết thanh của procalcitonin <0,5 ng /mL. Con số này đã được sử dụng thành công như mức ngừng kháng sinh trong hai trong số những thử nghiệm theo thời gian, và hai thử nghiệm sử dụng một mức độ cao hơn 1,0 ng/mL cũng báo cáo kết quả thành công, mặc dù mức độ này là không được thường xuyên trích dẫn, và được coi là quá cao bởi các nhà nghiên cứu khác. Mức 0,5 ng/mL cũng đã được sử dụng thành công như là một ngưỡng ban đầu không bắt đầu dùng kháng sinh trong ba thử nghiệm. Với việc không dùng kháng sinh tại mức này, bệnh nhân vẫn có kết quả thành công.

Để hỗ trợ thêm nhiều hơn để sử dụng một mức <0,5 ng/mL là mức ngừng kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại ICU, nó là hữu ích cũng để phác thảo những tài liệu cho thấy liên quan đến mức độ procalcitonin để chẩn đoán, hoặc ít nhất biểu lộ nhiều hơn, của nhiễm trùng huyết. Mức ngừng kháng sinh cần phải dưới mức để chẩn đoán khi mà nhiễm trùng huyết  đã được xác nhận.

Nồng độ procalcitonin chẩn đoán nhiễm trùng huyết

Ngoài các thử nghiệm ngẫu nhiên theo thời gian đã được thảo luận, đã có thêm 25 nghiên cứu không ngẫu nhiên điều tra nồng độ thích hợp của procalcitonin để chẩn đoán nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân ICU. Khi mức procalcitonin đã được chứng minh là cao hơn ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, so với những người chỉ vãng khuẩn huyết, nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi, khả năng tìm thấy một phạm vi chẩn đoán phù hợp được nâng cao trong quần thể này.Và do đó, kết quả của những nghiên cứu tập trung vào bệnh nhân trong bối cảnh khoa cấp cứu, y tế phường, và bệnh nhân ngoại trú đã được loại trừ.

Kết quả của những nghiên cứu điều tra mức độ procalcitonin chẩn đoán nhiễm trùng huyết ở ICU được thể hiện với mức procalcitonin tách ra các nhóm ≤0.5, 0,6 đến ≤1.0, 1,1 đến ≤1.5, và 1,6-2,0. Độ nhạy cao nhất để phát hiện nhiễm trùng huyết được tìm thấy trong các nghiên cứu đó mà chẩn đoán nhiễm trùng huyết dựa trên mức procalcitonin 2,0 ng / ml hoặc cao hơn. Trong những nghiên cứu này, độ nhạy để phát hiện nhiễm trùng huyết dao động từ 65-96%, mặc dù sáu trong số nhừng  nghiên cứu này cho thấy độ nhạy cảm lớn hơn 86%. Trong những nghiên cứu tương tự, các độ đặc hiệu dao động từ 70-89%. Đúng như sự mong đợi, khi mức độ chẩn đoán được giảm xuống đến 1,5 ng/mL hoặc 1,0 ng/mL hoặc ít hơn, độ nhạy tổng thể cũng giảm theo.

Với suy nghĩ này, năm thử nghiệm ngẫu nhiên đã được thực hiện ở những bệnh nhân nhiễm trùng huyết tại ICU cho thấy rằng mức độ procalcitonin ban đầu ghi nhận cho các bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết trong những thử nghiệm dao động từ 4,5-12 ng /mL. Như vậy, mức chẩn đoán là 2.0 ng/mL dường như mức này là thích hợp để chẩn đoán nhiễm trùng huyết ở ICU với độ nhạy và độ đặc hiệu chấp nhận được.

Phân biệt nhiễm trùng huyết từ SIRS

Các phần thứ ba của thông tin sẽ được thảo luận là phân biệt nhiễm trùng huyết từ SIRS. Mặc dù có bằng chứng đáng kể hỗ trợ procalcitonin tăng cao ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, nồng độ procalcitonin tăng lên từ từ trong SIRS không có nhiễm khuẩn. Một số nghiên cứu đã đề cập đến các lĩnh vực còn chồng chéo giữa hai nhóm.

Nó đã được ghi nhận từ các thử nghiệm ở bệnh nhân trong và ngoài  ICU rằng nồng độ ban đầu của procalcitonin sẽ cao hơn ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết so với bệnh nhân chỉ bị nhiễm trùng đường hô hấp hoặc vãng khuẩn huyết. Ngoài ra, procalcitonin không tăng ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng tại chỗ đơn giản. Trong khi ba thử nghiệm ngẫu nhiên ở bệnh nhân bên ngoài kiểm tra tính hữu ích của procalcitonin trong các nhiễm khuẩn đường hô hấp đã cho thấy lợi ích thực sự, mức độ procalcitonin là không cao, và sự khác biệt giữa các mức bắt đầu,nồng độ đỉnh, và mức giới hạn là khá nhỏ.

Điều này là bởi vì mỗi bệnh nhân bị nhiễm trùng không phải đều là nhiễm trùng huyết và procalcitonin đã cho thấy giá trị thực của nó trong việc xác định khi nào nên dừng thuốc kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết trong ICU. Tất cả các thử nghiệm ngẫu nhiên tại ICU  cho thấy sự gia tăng đáng kể nồng độ procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết. Hai nghiên cứu quan sát nhằm kiểm tra sự khác biệt trong nồng độ procalcitonin ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết được ghi nhận so với SIRS cho thấy rằng nồng độ trung bình ở những bệnh nhân nhiễm trùng huyết dao động từ 1,58-29,3 ng/ mL, trong khi ở nhóm SIRS, mức trung bình là 0,38-0,74 ng /mL. Một nghiên cứu khác nhằm kiểm tra nồng độ procalcitonin cơ bản ở những bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối thẩm tách máu không nhiễm trùng cho thấy khi tình trạng viêm của họ biểu hiện thì  nồng độ procalcitonin ở những bệnh nhân này vẫn tăng nhẹ ở một phạm vi trung bình 0,50 ± 0,49 ng /mL. Một nghiên cứu điều tra nồng độ procalcitonin ở bệnh nhân bị chấn thương thần kinh không nhiễm trùng phát hiện ra rằng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thương não, nồng độ procalcitonin tăng nhẹ từ 0,05-0,13 cho chấn thương não nhẹ, 0,11-0,55 cho chấn thương vừa phải, và 0,17 đến 0,79 đối với chấn thương não nghiêm trọng. Nhìn chung, các nghiên cứu đã kết luận rằng hầu hết các bệnh nhân với SIRS không nhiễm trùng duy trì một nồng độ procalcitonin qua trung gian viêm từ 0,3-0,8 ng/mL.

Sử dụng procalcitonin theo dõi nhiễm trùng huyết ở ICU: nồng độ tĩnh so với nồng độ biến đổi

Mặc dù những nghiên cứu trước đây cho thấy nồng độ procalcitonin trong nhiễm trùng huyết không tương quan với tỷ lệ tử vong, vài nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc gia tăng tỷ lệ tử vong đã được ghi nhận ở những bệnh nhân bị viêm phổi có nồng độ vượt quá 2,5 ng/mL và ở những bệnh nhân bị chấn thương nhiễm trùng  mà nồng độ vượt quá 5 ng/ml. Ngoài ra, nồng độ procalcitonin cao liên tục, hoặc không giảm sau khi điều trị kháng sinh, đã chỉ ra sự tương quan với tỷ lệ tử vong cao hơn.

Vì vậy, điều quan trọng là tiếp tục theo xu hướng của nồng độ procalcitonin trong khi bệnh nhân đang ở trong ICU. Nồng độ có thể thay đổi, và chắc chắn, một bệnh nhân ban đầu được nhận vào ICU sau đó có thể phát triển một nhiễm trùng, hoặc sau này trở thành nhiễm khuẩn huyết, và procalcitonin là một hướng dẫn hữu ích để theo dõi. Một sự gia tăng đáng kể nồng độ procalcitonin chắc chắn tạo nên mối nghi ngờ về một nhiễm trùng hay xấu đi của một quá trình nhiễm khuẩn huyết đang diễn ra. Người ta khuyến cáo rằng nếu các dấu hiệu lâm sàng là bằng chứng của nhiễm trùng huyết, và nồng độ procalcitonin ban đầu là thấp, các thuốc kháng sinh nên được bắt đầu ngay lập tức và  kiểm tralại nồng độ procalcitonin tại hời điểm 12, 24, và 36 giờ cho đến khi chẩn đoán là rõ ràng.

Sau khi thiết lập một mức  ≥2.0 ng /mL là nhạy cảm nhất và đặc hiệu nhất  đối với nhiễm trùng huyết và mức <0,5 ng /mL là an toàn để dừng thuốc kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại ICU, có một "vùng trung gian" từ 0,5-1,9 ng /mL. Hầu hết bệnh nhân SIRS có mức 0,3-0,8 ng /mL, trong đó chiếm một số trong vùng này. Đến bây giờ, các nồng độ này có thể đại diện cho sự xấu đi hoặc sự tiêu đi của một quá trình viêm hoặc nhiễm trùng huyết, tùy thuộc vào cách mà xu hướng phát triển. Vì vậy, các xu hướng là rất quan trọng và cần phải được theo dõi khi các bệnh nhân nặng hơn hoặc cải thiện.

Tất nhiên, procalcitonin chỉ là một dấu ấn sinh học của nhiễm trùng huyết, và đánh giá lâm sàng vẫn là chính trong việc quyết định khi có khởi đầu và chấm dứt kháng sinh. Tuy nhiên, hiện nay có bằng chứng đáng kể rằng procalcitonin có thể thành công khi được sử dụng để hướng dẫn điều trị kháng sinh và cho biết thêm lợi ích to lớn trong việc hạn chế sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh. Dấu ấn sinh học này là đáng tin cậy hơn về mặt sinh lý học như một dấu hiệu khách quan của nhiễm trùng đang diễn ra, và tính hữu dụng của nó được chứng minh bằng dữ liệu ngẫu nhiên theo thời gian. Một thuật toán dựa trên procalcitonin  để chấm dứt kháng sinh nên được chấp nhận rộng rãi hơn và là cao cấp hơn để liệu trình kháng sinh dựa trên số ngày được xác định trước.

Kết luận

Các kết luận sau đây sử dụng mức độ chứng cứ củaTrung tâm Oxford về Y học dựa trên bằng chứng 2009:

  1. Ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại ICU, một tình trạng hồi phục về mặt lâm sàng và nồng độ procalcitonin huyết thanh ít hơn 0,5 ng /mL xuất hiện có thể  chấp nhận được và  đây là thời gian an toàn để ngừng kháng sinh. (Mức độ chứng cứ 1b)
  2. Việc sử dụng của procalcitonin để quyết định khi nào nên dừng thuốc kháng sinh dựa trên một nồng độ nhỏ hơn 0,5 ng /mL ở bệnh nhân nhiễm trùng phổi và / hoặc nhiễm khuẩn huyết đã được chứng minh là làm giảm tổng lượng kháng sinh sử dụng và giảm thời gian dùng thuốc kháng sinh. (Mức độ chứng cứ 1b)
  3. Một tình huống lâm sàng thích hợp và nồng độ procalcitonin trên 2 ng /mL được chẩn đoán nhiễm trùng huyết với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, và điều trị kháng sinh cần được bắt đầu ngay lập tức.(Mức độ chứng cứ 2a)
  4. Một bệnh nhân với một đáp ứng viêm toàn thân(SIRS) và một nồng độ procalcitonin nhỏ hơn 0,5 ng /mL là rất khó để có một nguyên nhân nhiễm khuẩn từ SIRS, và thuốc kháng sinh có thể được giữ lại, mặc dù nồng độ procalcitonin có thể  biến đổi. (Mức độ chứng cứ 2a).

Dịch từ “http://www.jintensivecare.com-22/5/2015

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 25 Tháng 1 2016 14:50

You are here Đào tạo Tập san Y học Điều trị kháng sinh theo chỉ dẫn procalcitonin cho bệnh nhân nhiễm trùng tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (P.2)