• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Quản lý dịch trong bệnh nguy kịch

  • PDF.

BS Phạm Văn Thịnh - 

Liệu pháp dịch truyền, được dùng để khôi phục và duy trì tưới máu mô,là một phần của quản lý thường quy cho hầu hết các bệnh nhân nguy kịch. Tuy nhiên, vì quá nhiều hoặc quá ít dịch có thể có tác động tiêu cực đến kết cục của bệnh nhân, nên việc truyền dịch phải được hiệu chỉnh cẩn thận cho từng bệnh nhân. “Cứu hộ, tối ưu hóa, ổn định, xuống thang” (SOSD) là một gợi ý nên được sử dụng như một hướng dẫn chung để hồi sức dịch và quản lý dịch nên được điều chỉnh theo diễn biến bệnh. Trong giai đoạn cứu hộ ban đầu, dịch cứu mạng không nên được sử dụng tiết kiệm. Sau khi thiết lập phương pháp theo dõi huyết động, nên tối ưu hóa việc truyền dịch bằng cách xác định tình trạng dịch của bệnh nhân và nhu cầu cần truyền dịch thêm. Tuy nhiên, quyết định này có thể khó khăn; các chỉ số lâm sàng của giảm thể tích, chẳng hạn như tần số tim, huyết áp, và lượng nước tiểu, có thể không cho thấy sớm tình trạng giảm thể tích, và phù là dấu hiệu muộn của tình trạng quá tải dịch. Các nghiệm pháp động về khả năng đáp ứng bù dịch như áp lực mạch hoặc biến thiên thể tích nhát bóp chỉ có thể được sử dụng ở một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân nguy kịch và do đó, kỹ thuật test nước thường được sử dụng để đánh giá nhu cầu về dịch. Một khi bệnh nhân đã ổn định, các nỗ lực nên bắt đầu tập trung vào việc loại bỏ dịch dư thừa. Loại dịch nào nên được sử dụng vẫn là vấn đề tranh luận. Các dung dịch tinh thể rẻ hơn so với các dung dịch keo, nhưng các dung dịch keo thì tồn tại trong khoang nội mạch một thời gian dài hơn, làm giảm khả năng phù nề. Do đó, dịch tinh thể và dịch keo nên được sử dụng cùng nhau, đặc biệt là ở những bệnh nhân có khả năng cần thể tích dịch lớn. Albumin người là một dịch keo tự nhiên và có thể có tác dụng lợi ích ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết ngoài hiệu quả thể tích của nó. Các loại dịch nên được kê đơn như là các loại thuốc khác, có tính đến các yếu tố bệnh nhân, quá trình bệnh, và các phương pháp điều trị khác.

Xem tiếp tại đây

Đau cấp sau phẫu thuật tại phòng hồi tỉnh: Cập nhật về đánh giá và điều trị

  • PDF.

BS. Thuỷ Ngọc Chương - 

Tóm tắt

Đau cấp sau phẫu thuật vẫn là một vấn đề quan trọng trong thực hành lâm sàng. Nếu không được kiểm soát đầy đủ, đau có thể gây ra nhiều hậu quả bất lợi, ảnh hưởng đến quá trình hồi phục và làm tăng nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật.

Phần lớn người bệnh trải qua những giờ đầu tiên sau phẫu thuật tại phòng hồi tỉnh sau gây mê (Post-Anesthesia Care Unit – PACU). Kiểm soát đau tại PACU hiện vẫn chưa tối ưu và cần được cải thiện, bởi chất lượng giảm đau trong giai đoạn này có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hồi phục sau phẫu thuật.

Các nghiên cứu gần đây về điều trị đau sau phẫu thuật tại PACU tập trung vào những tiến bộ trong đánh giá và điều trị đau. Các phương pháp đánh giá đau khách quan hơn, ít phụ thuộc vào khả năng hợp tác và giao tiếp của người bệnh, đang được quan tâm. Một số công cụ bao gồm các thông số thu được từ photoplethysmography (PPG), chỉ số nociception–analgesia (Analgesia Nociception Index – ANI), đo độ dẫn điện của da (skin conductance) và đo phản xạ đồng tử (pupillometry). Tuy nhiên, cần thêm bằng chứng để xác định giá trị và khả năng ứng dụng thường quy của các phương pháp này trong PACU.

Giảm đau đa mô thức (multimodal analgesia), phối hợp nhiều nhóm thuốc giảm đau và các kỹ thuật giảm đau khác nhau, ngày càng được áp dụng rộng rãi. Trên cơ sở sinh lý bệnh của nhạy cảm hóa trung ương (central sensitization), chiến lược giảm đau dự phòng (preventive analgesia) ngày càng được quan tâm nhằm hạn chế quá trình khuếch đại và kéo dài cảm giác đau sau phẫu thuật.

Các opioid mới đang được nghiên cứu và phát triển nhằm duy trì hiệu quả giảm đau đồng thời hạn chế các tác dụng không mong muốn của opioid truyền thống. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều thuốc giảm đau không opioid đường tĩnh mạch và các thuốc hỗ trợ như dexmedetomidine, dexamethasone được sử dụng với mục tiêu giảm nhu cầu opioid (opioid-sparing).

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 11 Tháng 9 2026 09:49

Bản tin y khoa: Cập nhật định nghĩa toàn cầu lần thứ 5 về nhồi máu cơ tim (UDMI 2026)

  • PDF.

Bs. Nguyễn Lương Quang - 

Ngày 28/08/2026, tại Hội nghị thường niên của Hội Tim mạch Châu Âu diễn ra ở Munich, Đức, Nhóm công tác chung của các tổ chức thế giới gồm ESC, ACC, AHA và WHF đã chính thức công bố Định nghĩa toàn cầu lần thứ 5 về nhồi máu cơ tim (Fifth Universal Definition of Myocardial Infarction – 5th UDMI). Định nghĩa mới này mang đến những thay đổi mang tính bước ngoặt nhằm đơn giản hóa chẩn đoán lâm sàng, tối ưu hóa điều trị và thống nhất mã hóa quốc tế (ICD-11), thay thế cho phiên bản 4th UDMI công bố năm 2018.

Những điểm mới cốt lõi trong UDMI 2026

Thay đổi từ các “type” sang ba nhóm nhồi máu cơ tim: Xóa bỏ hệ thống phân loại số (type 1–5) và chuyển sang 3 nhóm bệnh cảnh lâm sàng:

NMCT nguyên phát (Primary MI): Bao gồm các trường hợp xảy ra tự phát do bệnh lý cấp tính tại động mạch vành (chủ yếu là nứt vỡ mảng xơ vữa dẫn đến huyết khối, bóc tách động mạch vành tự phát, thuyên tắc mạch vành hoặc co thắt mạch vành).

NMCT thứ phát (Secondary MI): Thay thế cho Type 2 cũ. Xảy ra do sự mất cân bằng cung - cầu oxy cơ tim xuất phát từ một bệnh lý cấp tính ngoài động mạch vành (như tăng/tụt huyết áp nặng, nhịp nhanh kịch phát, thiếu máu nặng, suy hô hấp).

NMCT liên quan thủ thuật (Procedure-related MI): Thay thế cho các Type 3, 4 (a, b, c) và Type 5 cũ. Nhóm này gộp chung các biến cố NMCT xảy ra trong vòng 30 ngày liên quan đến can thiệp mạch vành qua da hoặc phẫu thuật.

udmi

Đọc thêm...

Khuyến cáo suy tim ESC 2026 có gì mới?

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

Hội Tim mạch Châu Âu vừa chính thức công bố Khuyến cáo ESC 2026 về quản lý suy tim tại ESC Congress 2026 ở Munich, Đức, diễn ra từ ngày 28–31/8/2026, thay thế Khuyến cáo ESC 2021 về suy tim.

Bản cập nhật năm 2026 mang đến những thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận và quản lý suy tim, nổi bật với việc đơn giản hóa phân loại suy tim dựa trên phân suất tống máu thất trái (LVEF), đồng thời đưa vào phân loại suy tim theo giai đoạn, từ giai đoạn có nguy cơ phát triển suy tim đến suy tim tiến triển. Cách tiếp cận mới nhấn mạnh hơn vai trò của dự phòng, nhận diện sớm và can thiệp kịp thời, nhằm hạn chế tiến triển bệnh và cải thiện tiên lượng người bệnh.

Đáng chú ý, ESC 2026 cũng đề xuất hệ thống danh pháp mới đối với các liệu pháp điều trị suy tim, nhằm làm rõ hơn vai trò của điều trị nội khoa nền tảng, điều trị nội khoa bổ sung và các chiến lược điều trị nâng cao. Những thay đổi này phản ánh sự phát triển nhanh chóng của bằng chứng khoa học và hướng tới một cách tiếp cận đơn giản, nhất quán và dễ áp dụng hơn trong thực hành lâm sàng.

Những điểm mới quan trọng trong ESC 2026

1. Tinh gọn phân loại theo phân suất tống máu (LVEF): Thuật ngữ suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF) chính thức được lược bỏ. Phân loại suy tim hiện nay tập trung thành 2 nhóm chính: HFrEF (LVEF dưới 50%) và HFpEF (LVEF từ 50% trở lên).

2. Chuẩn hóa chiến lược điều trị bằng các thuật ngữ mới: Khuyến cáo 2026 định nghĩa rõ các nhóm:

  • FMT (Foundational Medical Therapy – Liệu pháp nội khoa nền tảng): Các thuốc có chỉ định nhóm I, bằng chứng vững chắc làm giảm tử vong/nhập viện.
  • AMT (Additional Medical Therapy – Liệu pháp nội khoa bổ sung): Các thuốc dùng cho nhóm đối tượng cụ thể hoặc cải thiện triệu chứng/chất lượng sống.
  • GDIT (Guideline-Directed Interventional Therapy - Liệu pháp can thiệp): Bao gồm các thiết bị hổ trợ tim mạch và thủ thuật can thiệp.

3. Đưa MRA vào điều trị nền tảng toàn diện: Kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) nhận chỉ định nhóm I cho suy tim mạn tính độc lập với phân suất tống máu (LVEF).

4. Cập nhật thuốc mới cho HFpEF béo phì: Semaglutide hoặc Tirzepatide đạt chỉ định nhóm IIa ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn kèm béo phì.

5. Nhấn mạnh giai đoạn suy tim (Stages A - D) và chuyển tuyến sớm: Đẩy mạnh nhận diện suy tim giai đoạn D (suy tim tiến triển) thông qua các tiêu chí lâm sàng rõ ràng để hội chẩn và chuyển tuyến chuyên khoa tim mạch sớm (ghép tim hoặc thiết bị hỗ trợ thất bền vững - LVAD).

ESC 2026

Xem tiếp tại đây

Hội chứng đái tháo đường đơn gen

  • PDF.

Bs Huỳnh Ngọc Tin - 

1. Các khuyến nghị

2.29a Bất kể tuổi hiện tại, tất cả những người được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường trong 6 tháng đầu đời đều nên được xét nghiệm gen để phát hiện bệnh tiểu đường sơ sinh.

2.29b Trẻ em và thanh thiếu niên không có các đặc điểm điển hình của bệnh tiểu đường loại 1 hoặc loại 2 và có tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường qua nhiều thế hệ (cho thấy kiểu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường) nên được xét nghiệm gen để phát hiện bệnh tiểu đường khởi phát ở tuổi trưởng thành (MODY).

2.29c Trong cả hai trường hợp, nên tham khảo ý kiến ​​của trung tâm chuyên về di truyền học bệnh tiểu đường để hiểu rõ ý nghĩa của các đột biến gen và cách tiếp cận tốt nhất cho việc đánh giá, điều trị và tư vấn di truyền tiếp theo.

Các khiếm khuyết đơn gen gây rối loạn chức năng tế bào β (ví dụ: bệnh tiểu đường sơ sinh và MODY) hoặc hội chứng kháng insulin (ví dụ: chứng loạn dưỡng mỡ đơn gen) xuất hiện ở một phần nhỏ những người mắc bệnh tiểu đường (<5%).

2. Chẩn đoán bệnh tiểu đường đơn gen

Nên xem xét chẩn đoán đái tháo đường đơn gen ở trẻ em và người lớn được chẩn đoán mắc đái tháo đường ở giai đoạn đầu tuổi trưởng thành với các dấu hiệu sau:

Bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong vòng 6 tháng đầu đời.

Bệnh tiểu đường không có các đặc điểm điển hình của tiểu đường loại 1 hoặc loại 2 (âm tính với kháng thể tự miễn liên quan đến tiểu đường, không béo phì và thiếu các đặc điểm chuyển hóa khác, đặc biệt là tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường).

Tăng đường huyết lúc đói ổn định, nhẹ (100–150 mg/dL [5,6–8,5 mmol/L]), chỉ số A1C ổn định từ 5,6 đến 7,6% (từ 38 đến 60 mmol/mol), đặc biệt nếu không bị béo phì.

mody

Xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV