• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Quản lý đường thở và thông khí ở bệnh nhân nặng béo phì

  • PDF.

Bs CK1 Nguyễn Hoàng Kim Ngân - 

Giới thiệu

Béo phì, theo định nghĩa truyền thống là chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 30 kg/m², là một vấn đề y tế toàn cầu, với 43% dân số trưởng thành được phân loại là thừa cân và 16% béo phì theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2022. Ngày càng nhiều bệnh nhân béo phì phải nhập viện điều trị tại khoa hồi sức tích cực. Từ 25% đến 40% số ca nhập viện ICU liên quan đến bệnh nhân béo phì. Quản lý đường thở ở những bệnh nhân này có những thách thức đặc biệt do những thay đổi đáng kể về mặt giải phẫu và sinh lý. Bệnh nhân thường có ít nhất một trong những yếu tố dự đoán giải phẫu được công nhận về quản lý đường thở, như cổ ngắn, miệng mở hẹp, lưỡi to và điểm Mallampati cao hơn. Những đặc điểm giải phẫu này, làm tăng độ phức tạp của việc quản lý đường thở (đường thở khó về mặt giải phẫu), cùng tồn tại với những thay đổi sinh lý (đường thở khó về mặt sinh lý), khiến bệnh nhân béo phì trong tình trạng nguy kịch trở thành một nhóm dân số riêng biệt, có nguy cơ cao gặp các biến cố bất lợi quanh thời điểm đặt nội khí quản. Đồng thời, những thay đổi sâu sắc về cơ học hô hấp, trao đổi khí và tương tác tim phổi làm việc quản lý thông khí sau đó cũng gặp nhiều khó khăn. Ở các bệnh nhân nặng, béo phì có liên quan đến thời gian thở máy kéo dài, thời gian nằm ICU lâu hơn. Nó cũng liên quan đến tình trạng xẹp phổi tăng lên, tỷ lệ mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS cao hơn, khiến cho việc thông khí phức tạp hơn. Bệnh nhân béo phì đặt ra một thách thức riêng biệt trong quản lý đường thở và thông khí cơ học.

duongtho

Xem tiếp tại đây

 

Chẩn đoán và điều trị đột quỵ tuyến yên

  • PDF.

Bs Trương Minh Trí - 

1. Định nghĩa và nguồn gốc

Đột quỵ tuyến yên là một hội chứng lâm sàng cấp tính gây ra bởi tình trạng xuất huyết hoặc nhồi máu ở tuyến yên. Tình trạng này thường xảy ra trên nền một khối u tuyến yên có sẵn (thường là u tuyến - adenoma). Thuật ngữ "Apoplexia" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là bị liệt do đột quỵ. Trong lịch sử, ca tử vong đầu tiên do xuất huyết trong u tuyến yên được Bailey ghi nhận vào năm 1898, và thuật ngữ "pituitary apoplexy" chính thức được Brougham và cộng sự đưa ra vào năm 1950.

2. Dịch tễ học và Cơ chế bệnh sinh

Dịch tễ học: Đây là một cấp cứu nội tiết hiếm gặp với tỷ lệ mới mắc khoảng 0,17 ca trên 1.000.000 người mỗi năm. Bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi từ 50-60 và nam giới có nguy cơ mắc cao hơn nữ giới. Tỷ lệ tử vong vẫn còn ở mức đáng kể, dao động từ 29 – 60% nếu không được xử trí kịp thời.

Cơ chế: Khối u tuyến yên phát triển quá nhanh tạo ra sự mất cân bằng giữa cung và cầu máu. Các mạch máu trong khối u thường mỏng manh, dễ vỡ, cộng với áp lực nội yên cao dẫn đến tình trạng xuất huyết hoặc thiếu máu cục bộ gây nhồi máu. Đáng lưu ý, trong 75-80% trường hợp, đột quỵ chính là biểu hiện lâm sàng đầu tiên giúp phát hiện khối u tuyến yên tiềm ẩn.

tuyenyen

Xem tiếp tại đây

 

Viêm tụy hoại tử: Cập nhật chẩn đoán và điều trị

  • PDF.

Ths.BSNT. Nguyễn Xuân Lâm - 

1. TỔNG QUAN

Viêm tụy cấp là tình trạng viêm cấp tính của tuyến tụy do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó sỏi mật và lạm dụng rượu là hai nguyên nhân phổ biến nhất. Theo phân loại Atlanta sửa đổi năm 2012, viêm tụy cấp được chia thành ba mức độ:

  • Viêm tụy cấp nhẹ
  • Viêm tụy cấp trung bình nặng
  • Viêm tụy cấp nặng

Viêm tụy hoại tử là tình trạng xuất hiện hoại tử nhu mô tụy, mô quanh tụy hoặc cả hai, thường xảy ra ở khoảng 10–20% bệnh nhân viêm tụy cấp. Đây là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao xuất hiện suy tạng kéo dài, nhiễm trùng hoại tử và tử vong.

Về mặt bệnh sinh, sự hoạt hóa bất thường của các enzyme tiêu hóa trong nhu mô tụy gây hiện tượng tự tiêu mô tụy, dẫn đến phản ứng viêm toàn thân (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS), rối loạn vi tuần hoàn, thiếu máu cục bộ và cuối cùng là hoại tử mô. Trong giai đoạn muộn, các vùng hoại tử có thể bị bội nhiễm bởi vi khuẩn đường ruột.

2. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

2.1. Triệu chứng cơ năng Triệu chứng thường gặp nhất là:

  • Đau bụng thượng vị dữ dội, đột ngột, đau lan ra sau lưng
  • Buồn nôn và nôn
  • Chướng bụng
  • Bí trung đại tiện

Cơn đau thường kéo dài nhiều giờ đến nhiều ngày và ít đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường.

2.2. Triệu chứng thực thể Bệnh nhân có thể biểu hiện:

  • Sốt
  • Mạch nhanh
  • Hạ huyết áp
  • Thở nhanh
  • Dấu mất nước
  • Giảm hoặc mất nhu động ruột

Xem tiếp tại đây

Bức tranh toàn cảnh về các biến cố bất lợi liên quan đến liệu pháp miễn dịch

  • PDF.

BS CKI. Hồ Huy Hùng - 

1. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICIs) và Cơ chế gây độc tính

Về bản chất, ICIs là các kháng thể điều hòa miễn dịch giúp "tháo bỏ phanh hãm" của hệ thống miễn dịch, cho phép tế bào T nhận diện và tấn công khối u. Tuy nhiên, sự kích hoạt quá mức này không chỉ khu trú tại khối u mà còn gây ra các phản ứng tự miễn chống lại các mô lành, dẫn đến khái niệm irAEs.

Các mục tiêu và thuốc ICIs tiêu biểu (đã được FDA phê duyệt hoặc đang phát triển):

PD-1: Nivolumab, Pembrolizumab, Cemiplimab, Dostarlimab, Retifanlimab, Toripalimab, Tislelizumab, Penpulimab.

PD-L1: Atezolizumab, Avelumab, Durvalumab, Cosibelimab.

CTLA-4: Ipilimumab, Tremelimumab.

LAG-3: Relatlimab (thường phối hợp với Nivolumab).

lieuphapmd

Xem tiếp tại đây

Tình trạng tăng đông máu trong hội chứng thận hư

  • PDF.

Bs Phan Đỗ Minh Quân - 

I. TỔNG QUAN

Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư (protein niệu lớn hơn 3,5 g/ngày và hạ albumin máu [dưới 3 g/dL]) có nguy cơ cao bị huyết khối tĩnh mạch, đặc biệt là huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và huyết khối tĩnh mạch thận (RVT). Thuyên tắc phổi (hầu hết không có triệu chứng) tương đối phổ biến, và có các báo cáo trường hợp về huyết khối tĩnh mạch não. Huyết khối động mạch (ví dụ: huyết khối chi và não) cũng xảy ra với tần suất cao hơn so với dân số nói chung.

II. DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ mắc cả huyết khối tĩnh mạch (VTE) và huyết khối động mạch (ATE) đều cao hơn ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư so với ước tính trong dân số nói chung. Trong một nghiên cứu đăng ký của Đan Mạch trên 3967 người trưởng thành mắc hội chứng thận hư lần đầu, nguy cơ tuyệt đối mắc ATE và VTE trong một năm lần lượt là 4% và 3%, và nguy cơ tuyệt đối trong 10 năm lần lượt là 14% và 8%. Để so sánh, trong số các đối chứng được ghép cặp theo tuổi và giới tính, nguy cơ mắc ATE và VTE trong một năm lần lượt là 1% và 0,4%, và nguy cơ trong 10 năm lần lượt là 9% và 3%. Trong số các bệnh nhân mắc hội chứng thận hư, nguy cơ cao nhất trong 10 năm được quan sát thấy ở đột quỵ thiếu máu cục bộ (8%) và nhồi máu cơ tim.

hcthh

Tóm tắt chỉ định điều trị dự phòng tắc mạch ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 15 Tháng 6 2026 22:08

You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV