• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Y học thường thức

Kính áp tròng: Sự tiện lợi và những nguy cơ tiềm ẩn

  • PDF.

Bs. Lê Văn Hiếu – Khoa Mắt

Kính áp tròng là một bước tiến hiện đại giúp người mắc tật khúc xạ tự tin và thuận tiện hơn trong sinh hoạt. Tuy nhiên, vì là thiết bị y tế tiếp xúc trực tiếp với bề mặt nhãn cầu, nếu không được làm sạch, sát khuẩn và bảo quản đúng cách, bạn có thể đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng mắt nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng vĩnh viễn đến thị lực.

1. Cảnh báo những rủi ro khi sử dụng sai cách

Tổn thương giác mạc: Kính áp tròng quá cũ hoặc không vừa vặn có thể gây trầy xước bề mặt nhãn cầu. Nghiêm trọng hơn, tình trạng thiếu oxy mãn tính do đeo kính quá lâu có thể khiến các mạch máu xâm lấn vào giác mạc, đe dọa trực tiếp đến thị lực.

Tương tác thuốc nguy hiểm: Nhiều loại thuốc nhỏ mắt có thể làm biến đổi cấu trúc kính hoặc tích tụ hóa chất gây độc cho mắt. Lưu ý: Chỉ sử dụng nước mắt nhân tạo không chất bảo quản theo chỉ định của bác sĩ khi đang đeo kính.

Dấu hiệu cần đi khám ngay: Hãy tháo kính ngay và đến gặp bác sĩ nếu có các triệu chứng: Mắt đỏ rực, đau nhức, chảy nước mắt giàn giụa, nhạy cảm với ánh sáng, nhìn mờ đột ngột hoặc có dịch mủ.

aptrong

Xem tiếp tại đây

Chung tay phòng, chống mua bán người

  • PDF.

Nguyễn Thị Phước – Phòng ĐD

Hưởng ứng "Ngày thế giới phòng, chống mua bán người" và "Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7" năm 2026

Thực hiện các chủ trương và văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế và Sở Y tế thành phố Đà Nẵng; công tác phòng, chống mua bán người trong ngành y tế gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe, quyền con người và sự bình yên của cộng đồng. Đây là dịp để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, đơn vị trong việc ngăn chặn loại tội phạm xâm phạm trực tiếp đến tự do và nhân phẩm con người.

muabann 

Hình minh họa

1. Nhận diện thủ đoạn và tăng cường cảnh giác

Tội phạm mua bán người ngày càng tinh vi, đòi hỏi người dân và cộng đồng cần nắm rõ các thủ đoạn và kỹ năng phòng ngừa cốt lõi:

  • Thủ đoạn lừa đảo: Lợi dụng không gian mạng, hoàn cảnh khó khăn để lừa đảo qua hình thức tuyển dụng việc làm "việc nhẹ lương cao", môi giới xuất khẩu lao động, du học hoặc kết hôn có yếu tố nước ngoài.
  • Kỹ năng phòng ngừa: Chủ động xác minh tính pháp lý của các đơn vị tuyển dụng, không giao giấy tờ tùy thân cho người lạ, thận trọng khi tham gia môi trường mạng và trang bị kỹ năng di cư an toàn.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 20 Tháng 7 2026 17:35

Phẫu thuật mở sọ kèm giải ép hay phẫu thuật mở sọ thông thường: Lựa chọn nào tốt hơn cho máu tụ dưới màng cứng cấp tính?

  • PDF.

Bs Lê Thanh Hùng – Khoa Ngoại TKCS

Máu tụ dưới màng cứng cấp tính là một trong những tổn thương nguy hiểm và thường gặp nhất sau chấn thương sọ não nặng. Đây là tình trạng cấp cứu ngoại thần kinh đòi hỏi phải phẫu thuật loại bỏ khối máu tụ càng sớm càng tốt. Khi đã lấy hết máu tụ, phẫu thuật viên phải đưa ra một quyết định quan trọng: đặt lại nắp sọ ( mở sọ thông thường) hay không đặt lại nắp sọ (mở sọ giải ép). Trong nhiều năm qua, lựa chọn này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của bác sĩ, thiếu bằng chứng khoa học rõ ràng.

Năm 2023, Tạp chí The New England Journal of Medicine (NEJM) đã công bố kết quả nghiên cứu RESCUE-ASDH, đây là một thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm nhằm so sánh kết quả của 2 phương pháp phẫu thuật. Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2014 đến 2019, các bác sĩ tại 40 bệnh viện thuộc 11 quốc gia đã nghiên cứu 450 bệnh nhân trưởng thành bị máu tụ dưới màng cứng cấp tính cần phẫu thuật, yêu cầu chung là đường kính trước sau của nắp sọ được mở khi phẫu thuật phải từ 11 cm trở lên. Sau khi lấy bỏ khối máu tụ, bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm:

  • 228 bệnh nhân: Được đặt lại nắp sọ (nhóm craniotomy – mở sọ thông thường).
  • 222 bệnh nhân: Không đặt lại nắp sọ (nhóm decompressive craniectomy – mở sọ giải ép).

Sau đó, bệnh nhân được theo dõi trong 12 tháng, đánh giá kết quả phục hồi bằng thang điểm chức năng thần kinh tiêu chuẩn quốc tế (GOSE). Kết quả sau 12 tháng cho thấy hiệu quả hai phương pháp phẫu thuật này là tương đương nhau, mức độ phục hồi chức năng giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê:

  • Tỷ lệ tử vong: 30,2% (nhóm đặt lại nắp sọ ) so với 32,2% (nhóm không đặt lại).
  • Tỷ lệ hồi phục tốt: 25,6% (nhóm đặt lại nắp sọ) so với 19,9% (nhóm không đặt lại).
  • Chất lượng cuộc sống của hai nhóm cũng gần như tương đương.
  • Tuy nhiên, mỗi phương pháp lại có những rủi ro riêng:
  • Nhóm đặt lại nắp sọ có tỷ lệ phải phẫu thuật lần hai sớm trong vòng hai tuần do tình trạng phù não cao hơn (14,6% so với 6,9%).
  • Nhóm không đặt lại nắp sọ có tỷ lệ biến chứng vết mổ và nhiễm trùng cao hơn (12,2% so với 3,9%).

Đọc thêm...

Phục hồi chức năng cho bệnh nhân vẹo cột sống

  • PDF.

KTV Phạm Thị Thanh Truyền - 

I. ĐẠI CƯƠNG

Vẹo cột sống là tình trạng cong của cột sống sang một bên của trục cơ thể và vẹo (xoay) của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang, giống như hình chữ C hoặc chữ S.

Cong vẹo cột sống có các dạng: vẹo cột sống ngực, vẹo cột sống thắt lưng, vẹo cột sống ngực - thắt lưng hoặc vẹo cột sống ngực và cột sống thắt lưng kết hợp.

Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, vẹo cột sống có thể gây ra các vấn đề liên quan và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như:

  • Vận động có thể bị hạn chế cúi lưng, nghiêng người sang bên, đi lại có thể bị lệch người.
  • Hô hấp: Cong vẹo cột sống nặng có thể làm cho trẻ thở khó khăn hơn bình thường.
  • Tâm lý: Trẻ, người lớn bị cong vẹo cột sống thường có cảm giác tự ti, xấu hổ, không mạnh dạn tham gia vào các hoạt động như vui chơi, học hành, thể dục thể thao, tìm kiếm việc làm và xây dựng gia đình.
  • Việc làm: Người lớn bị cong vẹo cột sống có thể gặp khó khăn trong kiếm việc làm do hình thức và chức năng vận động bị hạn chế nên khó được chấp nhận.
  • Xã hội: Trẻ em và người lớn bị cong vẹo cột sống thường bị bạn bè, người xung quanh chế nhạo.

veocs

Hình 1.1. Hình ảnh cong vẹo cột sống hình chữ S

Xem tiếp tại đây

 

Sả chanh – cây thuốc quanh ta

  • PDF.

BS Nguyễn Văn Tánh - 

Tên khoa học: Cymbopogon citratus (DC. ex Nees) Stapf. Poaceae (HọLúa) .

Tên khác: S, Mao hương.

Sả chanh là loại cỏ sống lâu năm, mọc thành bụi. Sả chanh được trồng rải rác trong nhân dân và trồng tập trung ở một số nông trường cả ở miền Bắc và miền Nam để chưng cất lấy tinh dầu sả. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sả chanh có nhiều hoạt tính dược lý khác nhau như chống amip, kháng khuẩn, chống tiêu chảy, chống giun chỉ, chống nấm và chống viêm. Nhiều tác dụng khác như chống sốt rét, chống đột biến gen, chống vi khuẩn lao, chống oxy hóa, hạ đường huyết và tác động lên hệ thần kinh cũng đã được nghiên cứu.

Bộ phận dùng: toàn cây, dùng tươi hay phơi khô trong râm mát (Herba Cymbopogonis citrati); tinh dầu (Oleum Cymbopogonis citrati).

Tính vị công năng: Sả chanh vị cay ngọt, tính ấm, có mùi thơm, vào kinh phế, tỳ, vị; có công năng khu phong, thanh thấp, khư ứ, tán hàn, phát hãn, giải biểu. thông kinh lạc, tiêu thũng, phòng côn trùng đốt.

Công dụng:

Theo Tuệ Tĩnh, sả vị đắng, tính ấm, mùi thơm có công năng bạt hôi thối, trừ tà khí, giải cảm hàn thấp, nóng sốt, trị đau bụng, lạnh dạ, nôn mửa.

Trong nhân dân ta, lá và củ (thân và rễ) sả được dùng chữa cảm mạo, nóng sốt, đau đầu, đau bụng, ỉa chảy, đầy hơi, trướng bụng, viêm tai giữa có mủ, viêm phổi, ho, kinh nguyệt không đều, phù thũng khi có thai. Ngày dùng 8-12g hoặc 15-30g tươi hãm lấy nước uống hoặc xông và lấy nước uống. Lá sả còn dùng pha nước uống cho mát và lợi tiểu hoặc nấu nước gội đầu cho sạch gầu, trơn tóc, tránh bệnh về da đầu.

Đọc thêm...

You are here Tin tức Y học thường thức