• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Tăng phosphate máu

  • PDF.

Bs Huỳnh Ngọc Tin - 

Tăng phosphate máu là nồng độ phosphate huyết thanh > 4,5 mg/dL (> 1,46 mmol/L). Nguyên nhân bao gồm bệnh thận mạn tính, suy tuyến cận giáp, và nhiễm toan chuyển hóa hoặc toan hô hấp. Các đặc điểm lâm sàng có thể cùng với hạ canxi máu và bao gồm tetani. Chẩn đoán bằng định lượng phosphate huyết thanh. Phương pháp điều trị bao gồm hạn chế lượng phosphate nạp vào và dùng thuốc trung hòa axit dịch vị gắn kết với phốt phát, chẳng hạn như canxi cacbonat.

1. NGUYÊN NHÂN TĂNG PHOTPHATE MÁU

Nguyên nhân thường gặp gây tăng photphate máu là:

Giảm bài tiết phosphate trong thận

Suy thận nặng (mức lọc cầu thận [GFR] < 30 mL/phút) làm giảm bài tiết đủ để tăng phosphate huyết thanh. Khiếm khuyết bài tiết phosphate qua thận khi không mắc bệnh thận mạn tính cũng xảy ra trong giả suy tuyến cận giáp, suy tuyến cận giáp và ức chế tuyến cận giáp (như do tưng canxi máu, do dư thừa vitamin A hoặc thừa vitamin D hoặc bệnh u hạt).

Tăng phosphate máu đôi khi là kết quả của trao đổi qua màng tế bào của phosphate ra ngoài tế bào lớn hơn khả năng bài tiết qua thận. Sự dịch chuyển qua tế bào này xảy ra thường xuyên nhất ở:

  • Bệnh toan ceton (mặc dù thiếu phosphate toàn bộ cơ thể)
  • Các thương tổn do nghiền nát
  • Không gây chấn thương tiêu cơ vân
  • Nhiễm trùng toàn thân
  • Hội chứng ly giải u

Tăng phosphate máu cũng có thể xảy ra do sử dụng quá nhiều phosphat qua đường ăn uống và thỉnh thoảng sử dụng chế phẩm thụt tháo có chứa phosphate quá mức.

Tăng phosphat máu có thể là giả trong các trường hợp tăng protein máu (ví dụ, trong đa u tuỷ hoặc macroglobulin máu, rối loạn lipit máu, tan máu hoặc tăng bilirubin máu.

Xem tiếp tại đây

 

Mẹo thực hành để ổn định tình trạng lâm sàng trong sốc nhiễm khuẩn

  • PDF.

Bs Lê Văn Tuấn - 

Một phụ nữ 52 tuổi đến khoa cấp cứu với tiền sử sốt, đau sườn phải và buồn nôn kéo dài 1-2 ngày. Các chỉ số sinh tồn: nhiệt độ 39,1°C, nhịp tim (130 nhịp/phút), nhịp thở (22 nhịp/phút) và huyết áp (70/40 mmHg). Bà bị đau vùng góc sườn cột sống bên phải. Kết quả xét nghiệm: bạch cầu 15 × 10/μL, creatinine 1,9 mg/dL và lactate 3,5 mmol/L. Xét nghiệm nước tiểu cho thấy nhiều bạch cầu và ít hồng cầu. Chụp CT cho thấy giãn thận phải kèm sỏi niệu quản gây tắc nghẽn. Bà được truyền 2 lít dung dịch Ringer lactate và được chỉ định dùng norepinephrine và kháng sinh phổ rộng. Đang chờ kết quả cấy máu và nước tiểu. Khoa Niệu dự kiến ​​can thiệp sau khi bệnh nhân ổn định. Mặc dù đã tăng liều norepinephrine lên 0,25 µg/kg/phút, huyết áp vẫn thấp ở mức 80/50 mm Hg. Bước tiếp theo thích hợp nhất là gì?

  1. Tăng dần liều norepinephrine để duy trì huyết áp động mạch trung bình ở mức 65 mm Hg.
  2. Thêm vasopressin.
  3. Chỉ sử dụng steroid liều cao để giảm căng thẳng.
  4. Bổ sung vasopressin và steroid liều cao để giảm căng thẳng.

NHẬN XÉT CỦA BÁC SĨ LÂM SÀNG

Bệnh nhân này có các triệu chứng điển hình của sốc nhiễm trùng thứ phát do tắc nghẽn đường tiết niệu. Tình trạng lâm sàng của bệnh nhân đang xấu đi nhanh chóng, được thể hiện bằng tình trạng hạ huyết áp liên tục (mặc dù đã truyền dịch ban đầu), không đáp ứng/đáp ứng tối thiểu với norepinephrine và nồng độ lactate tăng cao. Với liều norepinephrine 0,25 µg/kg/phút, trong thực hành của tôi, tôi sẽ ưu tiên điều chỉnh nhanh chóng tình trạng hạ huyết áp.

ssss

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 26 Tháng 4 2026 06:21

Đọc thêm...

Không đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở: Nguyên nhân sinh lý và các khía cạnh lâm sàng

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Yến Linh - 

Mặc dù việc phát hiện sự không đồng bộ về thời điểm giữa bệnh nhân và máy thở ở giai đoạn bắt đầu (triggering) và kết thúc (cycling-off) của chu kỳ hô hấp là khó khăn nếu không đo áp lực thực quản hoặc hoạt động điện của cơ hoành [1], nhưng việc quan sát kỹ các đường cong lưu lượng (flow) và áp lực đường thở (airway pressure) trên màn hình máy thở vẫn cho phép nhận diện lâm sàng các dạng không đồng bộ chính giữa bệnh nhân và máy thở, như nỗ lực hô hấp không hiệu quả (ineffective efforts) — dạng thường gặp nhất — và hiện tượng double-cycling [2].

Nỗ lực hô hấp không hiệu quả (Ineffective efforts)

Để kích hoạt một chu kỳ thở do máy hỗ trợ trong pha thở ra, bệnh nhân trước tiên phải vượt qua áp lực dương cuối thì thở ra nội tại (intrinsic PEEP), sau đó là ngưỡng kích hoạt hít vào của máy thở. Nếu nỗ lực hít vào của bệnh nhân không đủ mạnh để vượt qua gánh nặng này, máy thở sẽ không nhận diện được, dẫn đến hiện tượng không kích hoạt được chu kỳ thở (ineffective triggering).

Hiện tượng này có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào và trong mọi chế độ thở máy, nhưng thường gặp hơn trong chế độ hỗ trợ áp lực (pressure-support ventilation – PSV) so với các chế độ khác [2, 3].

Khi nỗ lực không hiệu quả xảy ra thường xuyên, tức là khi chỉ số không đồng bộ (asynchrony index) vượt quá 10% (số sự kiện không đồng bộ / tổng tần số thở), tần số thở do máy ghi nhận sẽ giảm tương ứng, thấp hơn đáng kể so với tần số thở thực của bệnh nhân [4].

Trong đa số các nghiên cứu, bệnh nhân có nỗ lực không hiệu quả thường xuyên (chiếm khoảng 10–20%) có thời gian thở máy kéo dài hơn [5]. Mặc dù hiện tượng này có thể chỉ phản ánh mức độ tổn thương hô hấp nặng hơn, nhưng cũng có bằng chứng cho thấy nó có thể gây hại [2, 3, 5].

thomay

Xem tiếp tại đây

Phân loại mới của polyp dạ dày: “tốt”, “xấu” và “rất xấu”

  • PDF.

Bs. Huỳnh Minh Nhật - 

Tóm tắt

Polyp dạ dày đang ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Trong nội soi tiêu hóa trên, cần đánh giá bằng ánh sáng trắng và đôi khi kết hợp nội soi nhuộm màu đồng thời phân loại hình thái theo hệ thống Paris. Phần lớn polyp dạ dày có hình ảnh nội soi điển hình và có thể liên quan đến các bệnh lý như nhiễm Helicobacter pylori. Việc chẩn đoán xác định đòi hỏi phải có xét nghiệm mô bệnh học.

Mặc dù đa số polyp là không tân sinh và không cần điều trị, một số có nguy cơ ác tính hoặc đã là ung thư. Do đó, việc hiểu rõ chẩn đoán, phân loại và xử trí polyp dạ dày đóng vai trò quan trọng trong tiên lượng bệnh nhân. Hệ thống phân loại mới chia polyp dạ dày thành ba nhóm: “tốt”, “xấu” và “rất xấu” dựa trên nguy cơ tiến triển ác tính. Mục tiêu là cung cấp mô tả về hình ảnh nội soi, đặc điểm bệnh học, phương pháp điều trị và theo dõi của các loại polyp khác nhau, đồng thời xây dựng các sơ đồ hướng dẫn quản lý lâm sàng.

polypdd

Xem tại đây

Cấy chỉ điều trị béo phì đơn thuần

  • PDF.

BS. Đoàn Trương Minh Thư – YHCT-PHCN

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Đại cương về béo phì

Béo phì đơn thuần là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự gia tăng bất thường khối lượng cơ thể do năng lượng nạp vào vượt quá năng lượng tiêu hao, dẫn đến tích tụ mỡ quá mức trong cơ thể. Đây là một bệnh mạn tính và phức tạp, có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng.

Béo phì được xem là một yếu tố nguy cơ chính của các bệnh chuyển hóa và không lây nhiễm, bao gồm đái tháo đường típ 2, gan nhiễm mỡ không do rượu, tăng huyết áp, bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ), bệnh cơ xương khớp (thoái hóa khớp) và một số loại ung thư. Tăng cân có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, đặc biệt là tử vong do ung thư và bệnh tim mạch.

Béo phì ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội, góp phần làm gia tăng gánh nặng y tế và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu.

* Về hình thái phân bố mỡ, béo phì được chia thành ba dạng chính:

- Béo phì dạng nam (Béo phì phần trên cơ thể, béo phì kiểu bụng, béo phì hình quả táo, béo phì trung tâm):
Mỡ phân bố chủ yếu ở vùng bụng, thân mình, vai, cánh tay, cổ và mặt. Người bệnh thường có vẻ mặt hồng hào, cơ vân phát triển (khác với hội chứng Cushing). Dạng béo phì này thường gặp ở người ăn nhiều và dễ dẫn đến các biến chứng chuyển hóa như hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường, đái tháo đường típ 2, bệnh gút, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh túi mật và ung thư vú.

- Béo phì dạng nữ (Béo phì phần dưới cơ thể, béo phì hình quả lê):
Mỡ phân bố chủ yếu ở phần dưới cơ thể như khung chậu, vùng thắt lưng, mông và đùi. Người bệnh thường có da xanh, cơ kém phát triển, dễ suy nhược, có thể kèm theo suy tĩnh mạch chi dưới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ.

- Béo phì hỗn hợp:
Mỡ phân bố tương đối đồng đều toàn thân. Những trường hợp béo phì nặng thường thuộc thể hỗn hợp.

caycghi

Xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo