Bs Huỳnh Ngọc Tin -
Tăng phosphate máu là nồng độ phosphate huyết thanh > 4,5 mg/dL (> 1,46 mmol/L). Nguyên nhân bao gồm bệnh thận mạn tính, suy tuyến cận giáp, và nhiễm toan chuyển hóa hoặc toan hô hấp. Các đặc điểm lâm sàng có thể cùng với hạ canxi máu và bao gồm tetani. Chẩn đoán bằng định lượng phosphate huyết thanh. Phương pháp điều trị bao gồm hạn chế lượng phosphate nạp vào và dùng thuốc trung hòa axit dịch vị gắn kết với phốt phát, chẳng hạn như canxi cacbonat.
1. NGUYÊN NHÂN TĂNG PHOTPHATE MÁU
Nguyên nhân thường gặp gây tăng photphate máu là:
Giảm bài tiết phosphate trong thận
Suy thận nặng (mức lọc cầu thận [GFR] < 30 mL/phút) làm giảm bài tiết đủ để tăng phosphate huyết thanh. Khiếm khuyết bài tiết phosphate qua thận khi không mắc bệnh thận mạn tính cũng xảy ra trong giả suy tuyến cận giáp, suy tuyến cận giáp và ức chế tuyến cận giáp (như do tưng canxi máu, do dư thừa vitamin A hoặc thừa vitamin D hoặc bệnh u hạt).
Tăng phosphate máu đôi khi là kết quả của trao đổi qua màng tế bào của phosphate ra ngoài tế bào lớn hơn khả năng bài tiết qua thận. Sự dịch chuyển qua tế bào này xảy ra thường xuyên nhất ở:
- Bệnh toan ceton (mặc dù thiếu phosphate toàn bộ cơ thể)
- Các thương tổn do nghiền nát
- Không gây chấn thương tiêu cơ vân
- Nhiễm trùng toàn thân
- Hội chứng ly giải u
Tăng phosphate máu cũng có thể xảy ra do sử dụng quá nhiều phosphat qua đường ăn uống và thỉnh thoảng sử dụng chế phẩm thụt tháo có chứa phosphate quá mức.
Tăng phosphat máu có thể là giả trong các trường hợp tăng protein máu (ví dụ, trong đa u tuỷ hoặc macroglobulin máu, rối loạn lipit máu, tan máu hoặc tăng bilirubin máu.










