• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Albumin máu và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc thận định kỳ

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hải - 

Albumin huyết thanh là một trong những chỉ dấu sinh học quan trọng nhất phản ánh tình trạng dinh dưỡng, viêm và tiên lượng sống còn ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) đang điều trị bằng lọc máu định kỳ. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ, độc lập và có tính tuyến tính giữa giảm albumin máu và tăng nguy cơ tử vong toàn bộ cũng như tử vong tim mạch. Cơ chế giảm albumin ở bệnh nhân ESRD mang tính đa yếu tố, bao gồm suy dinh dưỡng, viêm mạn tính, tăng dị hóa, mất protein qua lọc máu và các rối loạn chuyển hóa liên quan ure huyết.

Bệnh thận mạn giai đoạn cuối là một trong những gánh nặng bệnh tật lớn trên toàn cầu với tỷ lệ tử vong cao mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong điều trị thay thế thận. Dữ liệu từ hệ thống USRDS cho thấy tỷ lệ tử vong hàng năm ở bệnh nhân lọc máu vẫn ở mức 15 – 20%, trong đó tử vong tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất.

Trong bối cảnh đó, việc xác định các yếu tố tiên lượng có giá trị lâm sàng là rất cần thiết. Albumin huyết thanh nổi bật như một chỉ số đơn giản nhưng có giá trị tiên lượng mạnh mẽ. Không chỉ phản ánh tình trạng dinh dưỡng, albumin còn liên quan chặt chẽ đến viêm, stress oxy hóa và các rối loạn chuyển hóa khác. Việc hiểu rõ vai trò của albumin trong bệnh sinh và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân ESRD có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa albumin huyết thanh và nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ESRD, các bằng chứng hiện nay còn phân tán và chưa được hệ thống hóa một cách toàn diện, đặc biệt trong việc làm rõ vai trò của albumin như một chỉ dấu tiên lượng tích hợp.

albumin

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 19 Tháng 8 2026 17:59

Nebivolol có phải là thuốc chẹn beta tốt nhất trong điều trị tăng huyết áp?

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch phổ biến nhất và là nguyên nhân quan trọng dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim và bệnh thận mạn. Trong điều trị tăng huyết áp, thuốc chẹn beta giao cảm (beta-blocker) đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ và vẫn giữ vai trò quan trọng ở những bệnh nhân có chỉ định phù hợp, đặc biệt khi tăng huyết áp đi kèm bệnh mạch vành, rối loạn nhịp nhanh hoặc một số bệnh lý tim mạch khác.

Tuy nhiên, không phải tất cả các thuốc chẹn beta đều có đặc tính dược lý và hiệu quả lâm sàng giống nhau. Một nghiên cứu quy mô lớn được thực hiện tại Đài Loan và công bố trên Journal of the American Heart Association năm 2026 đã cung cấp thêm những dữ liệu đáng chú ý về sự khác biệt giữa nebivolol với carvedilol và một số thuốc chẹn beta thường được sử dụng khác.

nebi

Xem tiếp tại đây

 

Trục Não – Tim: Hướng tiếp cận toàn diện cho bệnh nhân tim mạch

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang -

Đại cương

Trong nhiều năm, nhồi máu cơ tim thường được xem là một biến cố chỉ xảy ra tại tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện đại đang cho thấy sự thật phức tạp hơn rất nhiều: một cơn đau tim không chỉ làm tổn thương cơ tim mà còn có thể tác động sâu sắc lên não bộ, cảm xúc, trí nhớ và hành vi của con người. Mới đây, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học Advanced Science bởi nhóm chuyên gia của Đại học Ottawa (Canada) đã tiếp tục củng cố khái niệm “Trục Não – Tim” (Heart–Brain Axis). Theo đó, sau nhồi máu cơ tim, cơ thể có thể sản sinh các chất gây viêm và độc tế bào, từ đó kích hoạt tình trạng viêm thần kinh và suy giảm nhận thức. Phát hiện này giúp lý giải vì sao nhiều bệnh nhân sau cơn đau tim thường xuất hiện: Trầm cảm, lo âu, giảm trí nhớ, mất tập trung, rối loạn giấc ngủ, suy giảm nhận thức sớm…Đây không còn đơn thuần là phản ứng tâm lý sau bệnh nặng, mà có thể là hậu quả sinh học thực sự của tổn thương tim lên não bộ.

naotim

Đọc thêm...

Dự phòng sốt giảm bạch cầu trung tính do hóa trị: vai trò của G-CSF và pegfilgrastim trong thực hành lâm sàng

  • PDF.

Bs Trần Quốc Dũng - TT Ung Bướu

Mức độ quan trọng?

Sốt giảm bạch cầu trung tính (febrile neutropenia – FN) là một biến chứng có thể đe dọa tính mạng ở người bệnh đang hóa trị. FN không chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và nhập viện mà còn có thể buộc phải trì hoãn hoặc giảm liều hóa trị, từ đó ảnh hưởng tới cường độ liều tương đối (RDI) và mục tiêu điều trị.

Dự phòng đúng đối tượng bằng G-CSF, đặc biệt các chế phẩm tác dụng kéo dài như pegfilgrastim, là một phần quan trọng của chăm sóc hỗ trợ hiện đại.

1. Sốt giảm bạch cầu trung tính: biến cố “nhỏ về xét nghiệm, lớn về hậu quả”

Bạch cầu trung tính (neutrophil) là thành phần chủ lực của miễn dịch bẩm sinh, tham gia nhận diện và tiêu diệt nhiều tác nhân gây nhiễm trùng. Hóa trị gây độc tế bào có thể làm suy giảm các tế bào tiền thân tạo máu trong tủy xương, dẫn đến giảm số lượng bạch cầu trung tính trong máu ngoại vi. Khi ANC giảm sâu, nguy cơ nhiễm trùng tăng rõ rệt. [1,8]

sotbc

Xem tiếp tại đây

 

Những tác dụng phụ thường gặp trong xạ trị sọ não với phân liều tiêu chuẩn

  • PDF.

Bs Lê Trung Nghĩa- TTUB

Xạ trị vùng sọ não được sử dụng để điều trị bệnh nhân mắc u não nguyên phát hoặc di căn và như biện pháp dự phòng cho một số bệnh nhân có nguy cơ cao bị ung thư xâm lấn hệ thần kinh. Việc hiểu rõ các hậu quả tiềm tàng liên quan đến xạ trị vùng sọ não là cần thiết để quản lý các biến chứng có thể xảy ra và tư vấn đúng đắn cho bệnh nhân và/hoặc người chăm sóc trước khi điều trị.

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng phát sinh biến chứng bao gồm thể tích mô não bình thường được điều trị, tổng liều bức xạ và phác đồ phân liều. Khả năng nhiễm độc não cũng tăng lên ở trẻ nhỏ (dưới 5 tuổi) và người lớn tuổi (trên 70 tuổi) cũng như khi sử dụng các liệu pháp toàn thân đồng thời hoặc tuần tự. Các yếu tố di truyền chưa được xác định rõ cũng có thể khiến một số cá nhân dễ bị tổn thương hơn ở những liều bức xạ an toàn.

Các biến chứng của xạ trị thường được chia thành các tác dụng cấp tính có thể xảy ra trong quá trình xạ trị hoặc sau đó từ sáu đến tám tuần, các tác dụng chậm sớm (bán cấp) xuất hiện trong vòng sáu tháng sau khi hoàn thành xạ trị, và các tác dụng muộn có thể phát triển sau sáu tháng hoặc hơn sau khi hoàn thành xạ trị, đôi khi xuất hiện nhiều năm sau điều trị. Không giống như các phản ứng cấp tính và chậm sớm thường có thể hồi phục, các phản ứng muộn thường không thể hồi phục.

Các tác dụng phụ cấp tính xảy ra trong quá trình xạ trị não phân liều chuẩn bằng các kỹ thuật hiện đại thường nhẹ và có thể kiểm soát được bằng các biện pháp hỗ trợ cơ bản. Một số tác dụng phụ phổ biến và không phổ biến hơn được thảo luận dưới đây. Hầu hết sẽ tự khỏi trong vòng vài ngày đến vài tuần sau khi hoàn tất xạ trị.

xtnao

Xem tiếp tại đây

 
You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV