• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Điều trị ngoại khoa viêm tụy cấp, cập nhật khuyến cáo Hiệp hội Tụy thế giới 2025

  • PDF.

Bs. Trần Minh Kiên - 

ĐẠI CƯƠNG

Viêm tụy cấp là một thực thể bệnh lý cấp cứu tiêu hóa có tỷ lệ nhập viện cao và đang có xu hướng gia tăng 3% mỗi năm trên toàn cầu. Sự gia tăng này liên quan trực tiếp đến các yếu tố nguy cơ như lạm dụng rượu, béo phì, sỏi mật và sự già hóa dân số. Phổ bệnh lý biến thiên rộng từ thể phù nề nhẹ đến thể hoại tử nặng nề. Việc xử trí đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của mô hình đội ngũ đa chuyên khoa bao gồm Nội tiêu hóa, Ngoại khoa, Hồi sức cấp cứu (ICU) và Chẩn đoán hình ảnh.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán viêm tụy cấp đòi hỏi có 2 trong 3 yếu tố sau:

  • Đau bụng luôn cấp tính (cấp tính, nặng và thường lan sau lưng).
  • Lipase huyết tương (hay amylase) ít nhất tăng 3 lần hơn mức cao bình thường.
  • Hình ảnh đặc trưng trên chụp cắt lớp (CT) có cản quang, ít hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI) hay siêu âm.

Nếu có 2 yếu tố đau bụng và men tụy tăng thì không nhất thiết làm chẩn đoán hình ảnh lúc nhập viện. Tiếp cận dùng chẩn đoán hình ảnh như CT-scan bụng có thuốc cản quang ở bệnh nhân viêm tụy cấp nên được thực hiện nếu chẩn đoán chưa rõ ràng hay thất bại trong đáp ứng với điều trị bảo tồn hoặc tình trạng lâm sàng diễn tiến xấu đi. Thời điểm tối ưu để chụp CT có tiêm thuốc cản quang thông thường nhằm đánh giá mức độ nặng là ít nhất 72–96 giờ sau khi khởi phát triệu chứng.

Nên thực hiện chụp CT có tiêm thuốc cản quang theo dõi khi: Cân nhắc thực hiện các can thiệp xâm lấn đối với các biến chứng tại chỗ hay có sự diễn tiến xấu đi về mặt lâm sàng ở bệnh nhân viêm tụy cấp.

Ở bệnh nhân không có sỏi mật và/hoặc bệnh sử nghiện rượu, phải kiểm tra xét nghiệm triglycerid máu và coi đó là nguyên nhân nếu trên 1000 mg/dl.

Chẩn đoán viêm tụy hoại tử nhiễm trùng nên được thiết lập dựa trên sự phối hợp giữa các biểu hiện lâm sàng, kết quả xét nghiệm huyết thanh và hình ảnh học. Không khuyến cáo sử dụng thường quy kỹ thuật chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) để xác định tình trạng viêm tụy hoại tử nhiễm trùng.

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 31 Tháng 3 2026 10:07

U mô đệm đường tiêu hoá

  • PDF.

Bs Lương Thành Vi - 

I. ĐẠI CƯƠNG

Các khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) là khối u trung mô thường gặp nhất của đường tiêu hóa, chiếm 20% các khối u dạng sarcoma và 1-2% các ung thư đường tiêu hóa nguyên phát. Người ta cho rằng những khối u này phát sinh từ các tế bào kẽ Cajal (ICC), hay còn gọi là tế bào tạo nhịp của đường tiêu hóa. Mặc dù những khối u này có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trong đường ruột, nhưng chúng thường được tìm thấy nhất ở dạ dày (55%) và ruột non (30%). Một số ít khối u này được tìm thấy ở đại tràng, trực tràng và thực quản, cũng như thậm chí cả bên ngoài đường tiêu hóa (tức là ngoài ruột như tuỵ, mạc treo ruột…). GIST đặc trưng bởi các đột biến tăng chức năng gây ung thư trong gen KIT hoặc PDGFRA , cũng như các yếu tố thúc đẩy khác, bao gồm các biến đổi trong các tiểu đơn vị SDHx , NF1 , BRAF , FGFR1 và sự hợp nhất ETV6NTRK3 . Do việc xác định các biến đổi gen trong KIT vào cuối những năm 1990, GIST đã trở thành mô hình cho ung thư học chính xác và các liệu pháp đa phương thức. Do đó, xét nghiệm gen, liệu pháp tân bổ trợ và bổ trợ nhắm mục tiêu, cũng như phẫu thuật cắt bỏ đều là những thành phần quan trọng trong điều trị bệnh này.

Xem tiếp tại đây

 

Lựa chọn thuốc giảm đau để kiểm soát cơn đau răng cấp tính và sau phẫu thuật trong nha khoa

  • PDF.

BS.CK1.Ngô Thị Nhật Phượng

Kiểm soát cơn đau hiệu quả và an toàn là mục tiêu hàng đầu trong nha khoa. Kiểm soát cơn đau liên quan đến bệnh răng miệng hoặc bệnh nha chu là lý do chính khiến bệnh nhân tìm đến bác sĩ. Ngoài ra, nhiều thủ thuật nha khoa gây đau sau phẫu thuật có thể kéo dài nhiều ngày. Do đó, bác sĩ nên sử dụng thuốc giảm đau thích hợp để điều trị và ngăn ngừa các cơn đau liên quan đến viêm nhiễm hoặc phẫu thuật.

Hiện nay có nhiều loại thuốc giảm đau khác nhau. Thuốc giảm đau có thể được phân loại thành thuốc giảm đau opioid và thuốc giảm đau không opioid. Thuốc giảm đau không opioid bao gồm thuốc chống viêm không steroid (tNSAID) và acetaminophen; tNSAID được chia nhỏ hơn nữa thành thuốc chống viêm không steroid truyền thống không chọn lọc (tNSAID) và thuốc ức chế cyclooxygenase (COX)-2 chọn lọc. Do đó, bác sĩ cần cân nhắc khi lựa chọn giữa các loại thuốc giảm đau đó để điều trị đau răng cấp tính và sau phẫu thuật.

Thuốc giảm đau opioid 

Các bác sĩ thường kê đơn thuốc giảm đau opioid, chẳng hạn như hydrocodone, codeine, oxycodone và tramadol để kiểm soát cơn đau răng. Tuy nhiên, opioid có thể gây ra nhiều tác dụng phụ khác nhau, chẳng hạn như buồn nôn và nôn, táo bón, bí tiểu, suy hô hấp, an thần, rối loạn giấc ngủ, phụ thuộc và nghiện. Ngược lại, thuốc giảm đau không opioid có ít tác dụng phụ nghiêm trọng hơn thuốc giảm đau opioid ở liều điều trị. Mặc dù trong lịch sử, hiệu lực và hiệu quả của thuốc giảm đau không opioid được cho là thấp hơn so với opioid, nhưng các nghiên cứu lâm sàng đã nhiều lần chứng minh rằng thuốc giảm đau không opioid, chẳng hạn như ibuprofen, hiệu quả hơn opioid trong việc giảm đau răng sau phẫu thuật. Tuy nhiên, nếu thuốc giảm đau không opioid không làm giảm đau, opioid có thể được dùng kết hợp với thuốc giảm đau không opioid để tạo ra tác dụng giảm đau hiệp đồng. Do đó, trong thực hành nha khoa, thay vì được kê đơn riêng lẻ, thuốc giảm đau opioid thường được kê đơn kết hợp với acetaminophen hoặc tNSAID để tăng hiệu quả giảm đau

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 30 Tháng 3 2026 13:33

Can thiệp điều dưỡng nhằm ngăn ngừa viêm phổi liên quan đến thở máy

  • PDF.

CNĐD Nguyễn Thị Lưu - 

Giới thiệu

Viêm phổi liên quan đến máy thở (VPLQTM) là một trong những nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến và nghiêm trọng tại các khoa Hồi sức tích cực (ICU). VPLQTM được định nghĩa là phát triển sau 48 giờ đặt nội khí quản. VPLQTM không chỉ làm kéo dài thời gian nằm viện mà còn làm tăng đáng kể chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong. Gánh nặng do VPLQTM gây cao hơn ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (LMICs), nơi nguồn lực hạn chế, ICU quá tải và tỷ lệ điều dưỡng viên trên bệnh nhân thấp góp phần làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng. Các gói thực hành dựa trên bằng chứng được khuyến nghị rộng rãi để ngăn ngừa VPLQTM. Các gói này kết hợp một số biện pháp can thiệp đơn giản có hiệu quả nhất khi được áp dụng cùng nhau và nhất quán. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các gói này làm giảm tỷ lệ VPLQTM, rút ​​ngắn thời gian thở máy và thời gian nằm ICU, đồng thời giảm tỷ lệ tử vong.

VAP

Đọc thêm...

Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật

  • PDF.

BS. Nguyễn Phạm Lâm Viên - 

TỔNG QUAN

Buồn nôn và nôn sau phẫu thuật (PONV– Postoperative Nausea and Vomiting) là một trong những biến chứng thường gặp nhất trong giai đoạn hồi tỉnh và hậu phẫu sớm. Dù không đe dọa trực tiếp tính mạng, PONV lại gây khó chịu đáng kể cho người bệnh, có thể dẫn đến mất nước, rối loạn điện giải, tăng đau, và thậm chí là hít sặc chất nôn, làm chậm quá trình hồi phục. Theo Hội Gây mê Hồi sức Hoa Kỳ, tỷ lệ PONV dao động từ 20–30%, và có thể lên đến 70-80% ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao. Trong bối cảnh nâng cao chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh, PONV được xem là một chỉ số phản ánh hiệu quả công tác gây mê – hồi sức và chăm sóc hậu phẫu.

ĐỊNH NGHĨA

Buồn nôn: là cảm giác chủ quan, khó chịu thôi thúc muốn nôn ra.

Nôn: là sự tống xuất mạnh mẽ các chất trong dạ dày ruột ra ngoài qua miệng.

Buồn nôn- nôn sau mổ: được định nghĩa là bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, ọe, hay nôn trong vòng 24-48 giờ sau mổ.

CƠ CHẾ

Cơ chế bệnh sinh của PONV rất phức tạp, nó liên quan đến nhiều con đường và thụ thể khác nhau.

Vị trí giải phẫu thần kinh kiểm soát buồn nôn và nôn là một vùng không được xác định rõ ràng gọi là “Trung tâm nôn” trong cấu trúc lưới ở thân não, nhận đầu vào hướng tâm từ các đường dẫn truyền kích thích phản xạ nôn. Trung tâm nôn gồm có 3 nhân não

  • Nhân đơn độc: nhận đường truyền cảm giác hướng tâm
  • Nhân lưng vận động của thần kinh lang thang
  • Nhân hoài nghi: chủ yếu liên quan đến sự phối hợp hoạt động khi nôn

Có 5 đường dẫn truyền hướng tâm chính tham gia vào việc kích thích phản xạ nôn như sau:

  • Vùng kích hoạt thụ thể hóa học (CTZ)
  • Đường dẫn truyền thần kinh phế vị qua niêm mạc trong hệ tiêu hóa
  • Các đường dẫn thần kinh từ hệ thống tiền đình
  • Các đường dẫn truyền phản xạ hướng tâm từ vỏ não
  • Các sợi thần kinh hướng tâm từ não giữa.

Việc kích thích một trong những đường dẫn truyền hướng tâm này có thể kích hoạt cảm giác nôn mửa thông qua các thụ thể cholinergic (muscarinic), dopaminergic, histaminergic hoặc serotonergic.

nonhp

Xem tiếp tại đây

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV