• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo nhân viên BV

Cá thể hóa điều trị kháng kết tập tiểu cầu sau hội chứng vành cấp: Xu hướng mới nhằm tối ưu hiệu quả và an toàn

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép (Dual Antiplatelet Therapy – DAPT) bao gồm aspirin phối hợp với một thuốc ức chế thụ thể P2Y12 là nền tảng điều trị ở bệnh nhân hội chứng vành cấp (ACS) sau can thiệp động mạch vành qua da (PCI). Trong hơn một thập kỷ qua, sự ra đời của các thuốc ức chế P2Y12 thế hệ mới như ticagrelor và prasugrel đã giúp giảm đáng kể các biến cố huyết khối so với clopidogrel, đặc biệt trong giai đoạn sớm sau ACS. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả chống huyết khối mạnh hơn là nguy cơ xuất huyết gia tăng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy xuất huyết không chỉ là biến cố ngoại ý đơn thuần mà còn là yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng tử vong tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: liệu tất cả bệnh nhân ACS có cần duy trì DAPT cường độ cao trong suốt 12 tháng hay không?

Sự phát triển của các thế hệ stent phủ thuốc mới cùng với hiểu biết sâu sắc hơn về diễn tiến nguy cơ huyết khối và xuất huyết đã thúc đẩy sự chuyển dịch từ chiến lược “one-size-fits-all” sang điều trị cá thể hóa, trong đó chiến lược xuống thang DAPT (DAPT de-escalation) nổi lên như một giải pháp cân bằng giữa hiệu quả và an toàn.

xuhuong

Hình 1. Cơ sở của chiến lược xuống thang DAPT ở bệnh nhân hội chứng vành cấp sau PCI

(Nguồn: Ndrepepa G, Kastrati A. Eur Heart J. 2023)

Đọc thêm...

Hiệu quả của Spironolactone ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn và giảm nhẹ: Thấy gì từ kết quả nghiên cứu SPIRIT-HF

  • PDF.

BS CK2. Nguyễn Lương Quang - 

Trong nhiều năm qua, thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (Mineralocorticoid Receptor Antagonist – MRA) như spironolactone được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) và suy tim có phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF). Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng vẫn còn nhiều tranh cãi kể từ sau nghiên cứu TOPCAT công bố năm 2014.

Tại Hội nghị Tim mạch Hoa Kỳ 2026 vừa qua, kết quả nghiên cứu SPIRIT-HF đã được công bố, cung cấp thêm những dữ liệu quan trọng về hiệu quả và độ an toàn của spironolactone ở nhóm bệnh nhân này. Có thể nói đây là một nghiên cứu quan trọng làm thay đổi cách nhìn về vai trò của spironolactone trong HFpEF và HFmrEF.

SPIRIT

Thiết kế và kết quả

SPIRIT-HF (Spironolactone in the Treatment of Heart Failure) là thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, được thực hiện tại 56 trung tâm thuộc 4 quốc gia châu Âu từ năm 2018 đến năm 2024.

Nghiên cứu tuyển chọn 730 bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên mắc suy tim có triệu chứng (NYHA II–IV) với phân suất tống máu thất trái (LVEF) ≥40%. Người bệnh phải có tiền sử nhập viện vì suy tim trong vòng một năm trước đó hoặc có nồng độ NT-proBNP tăng cao. Tuổi trung bình của người tham gia là 76 tuổi, trong đó 52% là nữ giới. Khoảng 80% bệnh nhân thuộc nhóm HFpEF và 20% thuộc nhóm HFmrEF.

Đọc thêm...

Đo lactate máu: động mạch hay tĩnh mạch?

  • PDF.

Bs CK1 Huỳnh Minh Thảo - ICU

Lactate là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa sử dụng glucose, còn gọi là đường phân kỵ khí, diễn ra trong bào tương của tất cả các tế bào. Trong các mô được cung cấp đủ oxy, lactate này sẽ được chuyển hóa tiếp tục, nhưng nếu các mô không được cung cấp đủ oxy, lactate sẽ tích tụ cục bộ và nồng độ trong máu tăng lên. 

Là một chỉ dấu sinh học trong máu về tình trạng thiếu oxy mô, việc đo nồng độ lactate từ lâu đã có giá trị lâm sàng, đặc biệt là trong việc đánh giá và theo dõi các bệnh nhân cấp tính/nguy kịch và nạn nhân chấn thương nặng tại phòng cấp cứu và các đơn vị chăm sóc tích cực. 

Máu động mạch được coi là mẫu chuẩn vàng để đo nồng độ lactate, nhưng theo các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn hiện nay, máu tĩnh mạch cũng được xem là một lựa chọn thay thế chấp nhận được. 

Bài viết bắt đầu bằng phần thảo luận tổng quan về sự khác biệt giữa máu động mạch và ba loại máu tĩnh mạch có thể được sử dụng để đo nồng độ lactate: máu tĩnh mạch ngoại vi, máu tĩnh mạch trung tâm và máu tĩnh mạch hỗn hợp. 

lactat

Xem tiếp tại đây

 

Cấp cứu chấn thương gãy xương hàm mặt

  • PDF.

Bs CK1 Ngô Thị Thu Thảo - 

gayxham

Xem tại đây

Thông khí môi trường trong cơ sở khám chữa bệnh

  • PDF.

Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn - 

1. Đặt vấn đề

Thông khí môi trường đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát lây lan các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các tác nhân lây truyền qua đường không khí như lao, cúm, sởi và COVID-19.Một hệ thống thông khí phù hợp không chỉ góp phần duy trì môi trường an toàn và lành mạnh cho người bệnh (NB) và nhân viên y tế (NVYT), mà còn giúp giảm nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí, từ đó hạn chế nguy cơ lây truyền các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là những bệnh lây qua đường không khí.

Trong thực tiễn, đã có nhiều minh chứng cho thấy thông khí kém có thể làm gia tăng sự lây truyền bệnh trong bệnh viện.Tại các cơ sở khám bệnh chữa bệnh (KBCB), hệ thống thông khí được thiết kế để cung cấp luồng không khí có kiểm soát, bảo đảm loại bỏ không khí ô nhiễm và thay thế bằng không khí sạch. Khi hoạt động hiệu quả, ngoài việc giảm nguy cơ lây nhiễm qua không khí, các hệ thống thông khí còn góp phần điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí, duy trì các điều kiện môi trường thích hợp, đặc biệt là ở các buồng phẫu thuật ghép tạng, buồng người bệnh ghép tủy hoặc buồng điều trị người bệnh suy giảm miễn dịch. Điều này rất quan trọng cho việc hồi phục của người bệnh và sự thoải mái của nhân viên y tế.

Việc thiết lập và duy trì thông khí tối ưu trong các cơ sở KBCB chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm: Thiết kế hạ tầng, điều kiện môi trường, loại hệ thống thông khí, mật độ người và tính chất hoạt động khám bệnh chữa bệnh, tác nhân gây bệnh,hiệu quả năng lượng và tính bền vững.

Xem tiếp tại đây

 
You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV