• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo NCKH

Dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư

  • PDF.

BSCK2. TRẦN QUỐC CHIẾN - TT UNG BƯỚU

1. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư là một bệnh lý mạn tính, không chỉ ảnh hưởng đến cơ quan bị bệnh mà còn có khả năng di căn, gây ra nhiều biến chứng và tác động tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh. Mối liên hệ giữa ung thư và dinh dưỡng là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ: ung thư làm suy giảm tình trạng dinh dưỡng, đồng thời, tình trạng dinh dưỡng kém lại ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị, cách thức điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đáng chú ý, có đến 20% bệnh nhân ung thư tử vong do hậu quả của suy dinh dưỡng hơn là do chính khối u [3].

Can thiệp dinh dưỡng sớm giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng, duy trì cân nặng và khối nạc cơ thể, tăng cường đáp ứng với điều trị và nâng cao chất lượng sống. Hướng dẫn thực hành của ESPEN (2021) nhấn mạnh: "Các vấn đề dinh dưỡng cần được xem xét ngay từ thời điểm chẩn đoán ung thư và cần được tiến hành song song với các phương pháp điều trị chống ung thư" [2]. Do đó, dinh dưỡng đóng vai trò then chốt trong chăm sóc và điều trị ung thư từ khi chẩn đoán cho đến suốt cuộc đời.

2. SUY DINH DƯỠNG VÀ SUY MÒN TRONG UNG THƯ

2.1. Sinh lý bệnh và định nghĩa

Khi xuất hiện tế bào ung thư, cơ thể phản ứng bằng cách tăng sản xuất các yếu tố dị hóa, dẫn đến phân hủy khối cơ và mỡ, đồng thời gây mất cảm giác thèm ăn và rối loạn chuyển hóa. Khối u còn làm tăng tiêu hao năng lượng ngay cả khi nghỉ ngơi. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến suy mòn trong ung thư.

Suy dinh dưỡng được định nghĩa là tình trạng mất cân bằng năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác, gây ảnh hưởng đến mô và cơ thể. Trong ung thư, suy dinh dưỡng có thể do bệnh lý hoặc do tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

Suy mòn ung thư là hội chứng mất khối cơ xương liên tục, không thể phục hồi hoàn toàn bằng hỗ trợ dinh dưỡng thông thường, diễn tiến đến suy chức năng. Tỷ lệ suy mòn dao động từ 8% đến 84% tùy loại ung thư, cao nhất ở ung thư đường tiêu hóa (80%) và ung thư đầu cổ (70%) [3].

ddK

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 17 Tháng 4 2026 15:49

Điện di protein huyết thanh

  • PDF.

CN. Nguyễn Thị Khánh Trình - 

Điện di protein huyết thanh là gì?

Điện di protein huyết thanh (SPEP) là một phương pháp đơn giản và ít tốn kém để tách các protein dựa trên điện tích tổng, kích thước và hình dạng của chúng. Hai loại protein chính có trong huyết thanh là albumin và các globulin. Albumin là thành phần protein chủ yếu của huyết thanh và tạo nên đỉnh lớn nhất nằm gần điện cực dương. Globulin chiếm một phần nhỏ hơn nhiều trong tổng lượng protein huyết thanh nhưng lại là trọng tâm chính trong việc diễn giải kết quả điện di protein huyết thanh. Có năm nhóm globulin: alpha-1, alpha-2, beta-1, beta-2 và gamma, trong đó phân đoạn gamma nằm gần điện cực âm nhất.

diendi

Xem tiếp tại đây

 

Rút ống nội khí quản

  • PDF.

BS CK2 Lê Tấn Tịnh - 

Rút ống nội khí quản ít thu hút sự quan tâm hơn so với đặt ống nội khí quản

Nghiên cứu, hướng dẫn và các chỉ định lâm sàng thường tập trung vào việc quản lý đường thở khi bắt đầu gây mê, và hiếm khi các thách thức của việc rút ống nội khí quản nhận được sự chú ý tương tự. Mặc dù sự chú trọng vào việc đặt ống nội khí quản, nhưng việc rút ống nội khí quản và sự hồi phục sau gây mê toàn thân không phải không có rủi ro. Dự án Kiểm toán Quốc gia lần thứ 4 của Hội đồng Gây mê Hoàng gia và Hiệp hội Đường thở Khó (DAS) (NAP4) đã phát hiện rằng gần một phần ba các biến chứng đường thở lớn xảy ra trong quá trình hồi phục và khi thức dậy từ gây mê. Hai trường hợp dẫn đến tử vong và một trường hợp bị tổn thương não nghiêm trọng, cùng với 10 ca phải can thiệp đường thở phẫu thuật khẩn cấp. Bệnh nhân phẫu thuật vùng miệng hoặc đầu và cổ chiếm gần 50% các trường hợp này, và béo phì là một tình trạng bệnh lý đi kèm phổ biến. Một khảo sát triển khai bởi Asai và các cộng sự cho thấy các biến chứng hô hấp sau khi rút ống nội khí quản và trong đơn vị chăm sóc hậu phẫu (PACU) phổ biến hơn nhiều so với các biến chứng xảy ra khi đặt ống nội khí quản. Dữ liệu từ cơ sở dữ liệu yêu cầu bảo hiểm của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ (ASA) cho thấy 18% yêu cầu bảo hiểm cho trường hợp tử vong hoặc tổn thương não do quản lý đường thở khó đã xảy ra trong hoặc sau khi rút ống nội khí quản. Mặc dù các biến chứng khi hồi phục và trong PACU có thể có vẻ nhỏ và tạm thời, nhưng dự án NAP4 cho thấy chúng có thể dẫn đến chấn thương lâu dài và tử vong.

RUTNKQ

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 06 Tháng 2 2026 16:04

Cập nhật viêm tụy cấp do tăng triglycerid

  • PDF.

Bs. Trần Thị Minh Thịnh - 

I. Đại cương.

Viêm tụy cấp (VTC) là 1 quá trình viêm cấp tính của tụy, bệnh cảnh lâm sàng khá đa dạng. biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau: mức độ nhẹ chỉ cần nằm viện ngắn ngày, ít biến chứng, mức độ nặng, diễn biến phức tạp, nhiều biến chứng, tỉ lệ tử vong cao 20-50% trong bệnh cảnh suy đa tạng, nhiễm trùng. Việc điều trị sớm là rất cần thiết nhằm ngăn ngừa các biến chứng.

Tăng triglycerid (TG) là một nguyên nhân phổ biến gây ra viêm tụy cấp. Tăng TG là nguyên nhân chiếm 1-35% trong tất cả các ca viêm tụy cấp và 56% ở các ca viêm tụy cấp có thai. Sự khác biệt về viêm tụy cấp do tăng TG và do các nguyên nhân khác, người ta nghiên cứu thấy viêm tụy cấp do tăng TG thường có tuổi đời trẻ hơn (44 so với 52 tuổi), nam gặp nhiều hơn nữ (65% so với 45%), có bệnh sử béo phì (57 so với 34%), hoặc đái tháo đường (38 so với 17%) khi so với các viêm tụy cấp do các nguyên nhân không phải do tăng TG máu.

vtc 1

Xem tiếp tại đây

 

Phục hồi chức năng bệnh nhân loét do đè ép

  • PDF.

Bs Trần Thị Tâm - 

I . ĐẠI CƯƠNG

1.1. Định nghĩa: 

Loét do đè ép là một tổn thương ở da do thiếu máu cục bộ gắn liền với sự chèn ép lâu dài của các mô mềm nằm giữa một mặt phẳng cứng và chỗ lồi xương. (Theo National Pressure Ulcer Advisory Panel, 1989).

1.2. Các yếu tố nguy cơ gây bị loét

- Yếu tố cơ học: Chủ yếu do sự chèn ép:

  • Chèn ép lên các mô mềm ở giữa hai mặt phẳng cứng: một bên là xương và bên kia là mặt chịu sức nặng, như giường, xe lăn...
  • Cường độ chèn ép và thời gian chèn ép dễ đưa đến việc hình thành vết loét.
  • Sự trượt: Hiện tượng chuyển động trượt của các lớp da xếp nếp, khi thân mình đặt nghiêng và trọng lượng con người có khuynh hướng làm cho cơ thể trượt về phía dưới. Độ ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho hiện tượng này.
  • Cọ xát và kéo giãn da: Gây nên mài mòn cơ học ở da. Những cọ xát và kéo giãn này gây nên những vết thương nông (mụn nước, khe nứt)

- Yếu tố thần kinh: cũng là yếu tố chính.

  • Mất hoặc giảm cảm giác: Không cảnh báo được cho bệnh nhân biết những tín hiệu nguy hiểm (tư thế khó chịu hoặc đau nhưng bệnh nhân không thấy được sự thay tư thế là cần thiết). Do đó việc lưu thông máu bị cản trở.
  • Liệt : Bệnh nhân không thực hiện động tác phòng chống loét, hạn chế phân bố máu cho cơ ở gần vết thương.

- Các yếu tố khác

  • Suy dinh dưỡng, tiểu tiện không tự chủ, độ ẩm quá mức.
  • Tình trạng tâm lý: Bệnh nhân chưa chịu chấp nhận sự khuyết tật của mình và không muốn tham gia vào việc phòng chống này.
  • Sức đề kháng của da, tuổi tác: Khi da khô sẽ mất đàn hồi thì rất dễ dàng cho vết loét xuất hiện. Có thể nguy cơ tăng nhiều hơn đối với những người trên 70 tuổi.

loet

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 03 Tháng 2 2026 21:12

You are here Đào tạo