• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Viêm tụy hoại tử: Cập nhật chẩn đoán và điều trị

  • PDF.

Ths.BSNT. Nguyễn Xuân Lâm - 

1. TỔNG QUAN

Viêm tụy cấp là tình trạng viêm cấp tính của tuyến tụy do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó sỏi mật và lạm dụng rượu là hai nguyên nhân phổ biến nhất. Theo phân loại Atlanta sửa đổi năm 2012, viêm tụy cấp được chia thành ba mức độ:

  • Viêm tụy cấp nhẹ
  • Viêm tụy cấp trung bình nặng
  • Viêm tụy cấp nặng

Viêm tụy hoại tử là tình trạng xuất hiện hoại tử nhu mô tụy, mô quanh tụy hoặc cả hai, thường xảy ra ở khoảng 10–20% bệnh nhân viêm tụy cấp. Đây là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao xuất hiện suy tạng kéo dài, nhiễm trùng hoại tử và tử vong.

Về mặt bệnh sinh, sự hoạt hóa bất thường của các enzyme tiêu hóa trong nhu mô tụy gây hiện tượng tự tiêu mô tụy, dẫn đến phản ứng viêm toàn thân (Systemic Inflammatory Response Syndrome - SIRS), rối loạn vi tuần hoàn, thiếu máu cục bộ và cuối cùng là hoại tử mô. Trong giai đoạn muộn, các vùng hoại tử có thể bị bội nhiễm bởi vi khuẩn đường ruột.

2. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

2.1. Triệu chứng cơ năng Triệu chứng thường gặp nhất là:

  • Đau bụng thượng vị dữ dội, đột ngột, đau lan ra sau lưng
  • Buồn nôn và nôn
  • Chướng bụng
  • Bí trung đại tiện

Cơn đau thường kéo dài nhiều giờ đến nhiều ngày và ít đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường.

2.2. Triệu chứng thực thể Bệnh nhân có thể biểu hiện:

  • Sốt
  • Mạch nhanh
  • Hạ huyết áp
  • Thở nhanh
  • Dấu mất nước
  • Giảm hoặc mất nhu động ruột

Xem tiếp tại đây

Bức tranh toàn cảnh về các biến cố bất lợi liên quan đến liệu pháp miễn dịch

  • PDF.

BS CKI. Hồ Huy Hùng - 

1. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICIs) và Cơ chế gây độc tính

Về bản chất, ICIs là các kháng thể điều hòa miễn dịch giúp "tháo bỏ phanh hãm" của hệ thống miễn dịch, cho phép tế bào T nhận diện và tấn công khối u. Tuy nhiên, sự kích hoạt quá mức này không chỉ khu trú tại khối u mà còn gây ra các phản ứng tự miễn chống lại các mô lành, dẫn đến khái niệm irAEs.

Các mục tiêu và thuốc ICIs tiêu biểu (đã được FDA phê duyệt hoặc đang phát triển):

PD-1: Nivolumab, Pembrolizumab, Cemiplimab, Dostarlimab, Retifanlimab, Toripalimab, Tislelizumab, Penpulimab.

PD-L1: Atezolizumab, Avelumab, Durvalumab, Cosibelimab.

CTLA-4: Ipilimumab, Tremelimumab.

LAG-3: Relatlimab (thường phối hợp với Nivolumab).

lieuphapmd

Xem tiếp tại đây

Tình trạng tăng đông máu trong hội chứng thận hư

  • PDF.

Bs Phan Đỗ Minh Quân - 

I. TỔNG QUAN

Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư (protein niệu lớn hơn 3,5 g/ngày và hạ albumin máu [dưới 3 g/dL]) có nguy cơ cao bị huyết khối tĩnh mạch, đặc biệt là huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và huyết khối tĩnh mạch thận (RVT). Thuyên tắc phổi (hầu hết không có triệu chứng) tương đối phổ biến, và có các báo cáo trường hợp về huyết khối tĩnh mạch não. Huyết khối động mạch (ví dụ: huyết khối chi và não) cũng xảy ra với tần suất cao hơn so với dân số nói chung.

II. DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ mắc cả huyết khối tĩnh mạch (VTE) và huyết khối động mạch (ATE) đều cao hơn ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư so với ước tính trong dân số nói chung. Trong một nghiên cứu đăng ký của Đan Mạch trên 3967 người trưởng thành mắc hội chứng thận hư lần đầu, nguy cơ tuyệt đối mắc ATE và VTE trong một năm lần lượt là 4% và 3%, và nguy cơ tuyệt đối trong 10 năm lần lượt là 14% và 8%. Để so sánh, trong số các đối chứng được ghép cặp theo tuổi và giới tính, nguy cơ mắc ATE và VTE trong một năm lần lượt là 1% và 0,4%, và nguy cơ trong 10 năm lần lượt là 9% và 3%. Trong số các bệnh nhân mắc hội chứng thận hư, nguy cơ cao nhất trong 10 năm được quan sát thấy ở đột quỵ thiếu máu cục bộ (8%) và nhồi máu cơ tim.

hcthh

Tóm tắt chỉ định điều trị dự phòng tắc mạch ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 15 Tháng 6 2026 22:08

Đọc thêm...

Cá thể hóa điều trị kháng kết tập tiểu cầu sau hội chứng vành cấp: Xu hướng mới nhằm tối ưu hiệu quả và an toàn

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép (Dual Antiplatelet Therapy – DAPT) bao gồm aspirin phối hợp với một thuốc ức chế thụ thể P2Y12 là nền tảng điều trị ở bệnh nhân hội chứng vành cấp (ACS) sau can thiệp động mạch vành qua da (PCI). Trong hơn một thập kỷ qua, sự ra đời của các thuốc ức chế P2Y12 thế hệ mới như ticagrelor và prasugrel đã giúp giảm đáng kể các biến cố huyết khối so với clopidogrel, đặc biệt trong giai đoạn sớm sau ACS. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả chống huyết khối mạnh hơn là nguy cơ xuất huyết gia tăng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy xuất huyết không chỉ là biến cố ngoại ý đơn thuần mà còn là yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng tử vong tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: liệu tất cả bệnh nhân ACS có cần duy trì DAPT cường độ cao trong suốt 12 tháng hay không?

Sự phát triển của các thế hệ stent phủ thuốc mới cùng với hiểu biết sâu sắc hơn về diễn tiến nguy cơ huyết khối và xuất huyết đã thúc đẩy sự chuyển dịch từ chiến lược “one-size-fits-all” sang điều trị cá thể hóa, trong đó chiến lược xuống thang DAPT (DAPT de-escalation) nổi lên như một giải pháp cân bằng giữa hiệu quả và an toàn.

xuhuong

Hình 1. Cơ sở của chiến lược xuống thang DAPT ở bệnh nhân hội chứng vành cấp sau PCI

(Nguồn: Ndrepepa G, Kastrati A. Eur Heart J. 2023)

Đọc thêm...

Hiệu quả của Spironolactone ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu bảo tồn và giảm nhẹ: Thấy gì từ kết quả nghiên cứu SPIRIT-HF

  • PDF.

BS CK2. Nguyễn Lương Quang - 

Trong nhiều năm qua, thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (Mineralocorticoid Receptor Antagonist – MRA) như spironolactone được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) và suy tim có phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF). Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng vẫn còn nhiều tranh cãi kể từ sau nghiên cứu TOPCAT công bố năm 2014.

Tại Hội nghị Tim mạch Hoa Kỳ 2026 vừa qua, kết quả nghiên cứu SPIRIT-HF đã được công bố, cung cấp thêm những dữ liệu quan trọng về hiệu quả và độ an toàn của spironolactone ở nhóm bệnh nhân này. Có thể nói đây là một nghiên cứu quan trọng làm thay đổi cách nhìn về vai trò của spironolactone trong HFpEF và HFmrEF.

SPIRIT

Thiết kế và kết quả

SPIRIT-HF (Spironolactone in the Treatment of Heart Failure) là thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, được thực hiện tại 56 trung tâm thuộc 4 quốc gia châu Âu từ năm 2018 đến năm 2024.

Nghiên cứu tuyển chọn 730 bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên mắc suy tim có triệu chứng (NYHA II–IV) với phân suất tống máu thất trái (LVEF) ≥40%. Người bệnh phải có tiền sử nhập viện vì suy tim trong vòng một năm trước đó hoặc có nồng độ NT-proBNP tăng cao. Tuổi trung bình của người tham gia là 76 tuổi, trong đó 52% là nữ giới. Khoảng 80% bệnh nhân thuộc nhóm HFpEF và 20% thuộc nhóm HFmrEF.

Đọc thêm...

You are here Đào tạo