• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Điều trị sốt giảm bạch cầu hạt

  • PDF.

Bs. Trần Quốc Dũng - TTUB

Sốt giảm bạch cầu hạt (febrile neutropenia – FN) là một cấp cứu thường gặp trong điều trị ung thư. Do hệ miễn dịch bị suy giảm, nhiễm khuẩn ở bệnh nhân giảm bạch cầu hạt có thể diễn biến nhanh, dẫn đến nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc suy đa cơ quan. Vì vậy, cần nhận diện sớm và điều trị kịp thời, không chờ xác định được tác nhân gây bệnh.

1. Định nghĩa

Sốt giảm bạch cầu hạt được xác định khi:

  • Nhiệt độ ≥38,3°C một lần, hoặc ≥38,0°C kéo dài trên 1 giờ;
  • Kèm ANC <0,5 ×10⁹/L, hoặc ANC <1,0 ×10⁹/L nhưng dự kiến giảm xuống ≤0,5 ×10⁹/L trong vòng 48 giờ.

Mức độ và thời gian giảm bạch cầu hạt càng nặng thì nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao. Đặc biệt, ANC <0,5 ×10⁹/L được xem là giảm bạch cầu hạt nặng.

sotBC2

Xem tiếp tại đây

Đau thần kinh sau zona

  • PDF.

Bác sĩ Phan Thị Giao Uyên -

1. GIỚI THIỆU CHUNG VÀ DỊCH TỄ HỌC

Đau thần kinh sau zona (Postherpetic Neuralgia - PHN) là biến chứng mãn tính phổ biến, nghiêm trọng của bệnh zona thần kinh (Acute Herpes Zoster - AHZ). Đây là một dạng đau thần kinh dai dẳng, xuất phát từ tổn thương dây thần kinh cảm giác do sự tái hoạt động của virus Varicella Zoster (VZV). PHN ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt ở nhóm đối tượng nhạy cảm như người cao tuổi và người suy giảm miễn dịch.

Cơ chế bệnh sinh và Dịch tễ học

Sau lần nhiễm trùng ban đầu gây bệnh thủy đậu, virus VZV không bị tiêu diệt hoàn toàn mà ẩn náu ở trạng thái tiềm tàng trong các hạch thần kinh cảm giác rễ sau tủy sống và hạch thần kinh sọ. Hơn 95% dân số trưởng thành ở các nước phát triển mang kháng thể VZV và do đó có nguy cơ tái phát bệnh. Khi hệ miễn dịch trung gian tế bào suy giảm—do tuổi tác, căng thẳng, bệnh lý nền mạn tính hoặc liệu pháp ức chế miễn dịch—virus sẽ tái hoạt động, nhân lên, di chuyển dọc theo dây thần kinh ra da, gây nên các mụn nước đau rát đặc trưng của bệnh zona thần kinh.

Theo thống kê từ nghiên cứu Olmsted County, tỷ lệ mắc AHZ trong cộng đồng là 3,6 ca trên 1.000 người-năm. Tỷ lệ này tăng vọt theo độ tuổi: đạt 7,1 ca/1.000 người-năm ở độ tuổi 70 và lên tới 12,0 ca/1.000 người-năm ở những người từ 80 tuổi trở lên. Khoảng 51% tổng số ca mắc AHZ xảy ra ở nhóm người trên 60 tuổi, mặc dù nhóm này chỉ chiếm 23% dân số.

Xem tiếp tại đây

Vật lý trị liệu vẹo cổ bẩm sinh

  • PDF.

CN Nguyễn Quốc Việt - 

I. ĐẠI CƯƠNG

1. Giải phẫu

Cơ ức đòn chũm gồm 2 bó có nguyên ủy xuất phát từ xương ức (bó ức) và đầu trong xương đòn (bó đòn). Cả 2 bó đi lên trên và ra sau bám tận vào mỏm chũm của xương thái dương.

Về chức năng, bó ức tham gia vào cử động gập và xoay đầu sang đối bên. Bó đòn gập và nghiêng đầu sang cùng bên. Khi 2 bó cùng hoạt động sẽ tạo ra cử động gập cổ, nghiêng đầu sang cùng bên và xoay đầu sang đối bên. Khi cơ ức đòn chủm 2 bên cùng co sẽ tạo ra cử động gập cổ mạnh hơn.

veoco

Xem tiếp tại đây

 

Viêm tủy xương đường máu cấp tính ở trẻ em

  • PDF.

BSCKI. Nguyễn Trung Hiếu -

1. ĐẠI CƯƠNG

Viêm tủy xương là tình trạng nhiễm trùng xương do vi khuẩn hoặc các vi sinh vật khác gây ra. Ở trẻ em, đường máu là cơ chế gây bệnh quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp không có tiền sử chấn thương hoặc phẫu thuật tại vùng xương bị tổn thương. AHO thường xuất hiện cấp tính và có thể tiến triển nhanh nếu không được nhận biết và điều trị kịp thời.

AHO là một bệnh nhiễm trùng xâm lấn tương đối thường gặp ở trẻ em, có thể gây bệnh suất đáng kể và hạn chế chức năng lâu dài. Mặc dù tiên lượng nhìn chung tốt khi được chẩn đoán và điều trị sớm, bệnh vẫn có thể dẫn đến viêm tủy xương mạn tính, tái phát, rối loạn tăng trưởng hoặc tổn thương khớp.

Điểm khó trong thực hành là biểu hiện ban đầu của bệnh có thể không điển hình. Trẻ có thể chỉ đau một vùng chi, đi khập khiễng hoặc không chịu vận động chi. Sốt có thể không rõ và X-quang ở giai đoạn sớm thường chưa có biến đổi đặc hiệu. Chính vì vậy, AHO cần được đặt ra trong chẩn đoán phân biệt ở trẻ có đau xương khu trú không giải thích được, đặc biệt khi kèm sốt hoặc hạn chế vận động.

Trong những năm gần đây, chiến lược chẩn đoán và điều trị AHO đã có nhiều thay đổi. Hướng dẫn PIDS/IDSA năm 2021 nhấn mạnh hơn vai trò của MRI, xét nghiệm PCR từ bệnh phẩm xương, điều trị kinh nghiệm có cân nhắc MRSA và đặc biệt là chuyển sớm từ kháng sinh tĩnh mạch sang đường uống ở bệnh nhân ổn định.

viemxuong

Xem tiếp tại đây

Hội chứng cơ hình lê – “Thủ phạm” gây đau mông dễ bị bỏ sót

  • PDF.

Bs Trình Trung Phong - Khoa Nội tổng hợp

Đau vùng mông, lan xuống chân không phải lúc nào cũng là đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm. Một nguyên nhân ít được chú ý nhưng khá dễ bị chẩn đoán nhầm là hội chứng cơ hình lê (Piriformis syndrome) – tình trạng cơ hình lê bị co thắt, căng hoặc kích thích, gây chèn ép thần kinh tọa khi thần kinh đi qua vùng mông.

1. Một tình huống lâm sàng dễ bị bỏ sót

Một bệnh nhân nữ 45 tuổi đến khám vì đau vùng mông bên phải kéo dài hơn 2 tháng, đôi khi đau lan xuống mặt sau đùi. Bệnh nhân cho biết đau tăng rõ khi ngồi lâu, lái xe đường dài hoặc ngồi làm việc, đặc biệt khi đứng dậy sau một thời gian ngồi. Không có yếu chân, không rối loạn tiểu tiện hay đại tiện.

Trước đó, bệnh nhân đã được chẩn đoán là “đau thần kinh tọa” và điều trị bằng thuốc giảm đau, chống viêm nhưng cải thiện không đáng kể.

Khi thăm khám kỹ, cột sống thắt lưng không có dấu hiệu đặc biệt. Nghiệm pháp gây căng cơ hình lê làm xuất hiện đúng cơn đau quen thuộc của bệnh nhân. Hình ảnh cộng hưởng từ cột sống thắt lưng không cho thấy tổn thương đủ để giải thích triệu chứng.

Cuối cùng, bệnh nhân được xác định hội chứng cơ hình lê và điều trị bằng nghỉ ngơi tương đối, thuốc phù hợp kết hợp vật lý trị liệu, kéo giãn và phục hồi chức năng cơ hình lê. Sau một thời gian điều trị, triệu chứng giảm rõ rệt.

hinhle

Đọc thêm...

You are here Đào tạo