• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo NCKH

Tính an toàn và hiệu quả của magie sulfat trong điều trị uốn ván: Một đánh giá có hệ thống

  • PDF.

Bs Trần Minh Quang - 

Uốn ván là một bệnh ít gặp, đe dọa tính mạng, thường kèm theo các biến chứng như co thắt cơ lặp đi lặp lại, rối loạn thần kinh tự chủ và suy hô hấp thần kinh cơ, góp phần dẫn đến tỷ lệ tử vong cao ở thể nặng. Thuốc benzodiazepine được sử dụng để điều trị co thắt cơ có nguy cơ cao gây suy hô hấp, cần thở máy, điều này không khả thi và khó tiếp cận đối với nhiều người. Magie sulfat, một loại thuốc rẻ tiền và có sẵn rộng rãi tại tất cả các trung tâm y tế thành thị và nông thôn của các nước thu nhập thấp và trung bình để điều trị tiền sản giật, có thể được sử dụng để kiểm soát co thắt cơ và rối loạn thần kinh tự chủ. Do đó, chúng tôi đã tiến hành một đánh giá hệ thống các bằng chứng để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của magie sulfat trong điều trị uốn ván. Bất kỳ nghiên cứu nào được công bố trước ngày 15 tháng 4 năm 2021, thảo luận về hiệu quả và/hoặc tính an toàn của truyền MgSO4 trong điều trị uốn ván đều được xem xét một cách có hệ thống bằng cách sử dụng Hướng dẫn báo cáo ưu tiên cho đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp (PRISMA). Đánh giá hệ thống của chúng tôi bao gồm dữ liệu từ 13 nghiên cứu, trong đó ba nghiên cứu là thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi và có đối chứng. Mười nghiên cứu còn lại là nghiên cứu quan sát; Sáu nghiên cứu tiến cứu và bốn nghiên cứu hồi cứu. Đánh giá của chúng tôi cho thấy không có lợi ích nào về tỷ lệ tử vong liên quan đến việc sử dụng magie sulfat. Tuy nhiên, magie sulfat được phát hiện là có hiệu quả trong việc giảm co thắt khi kết hợp với diazepam, dẫn đến kiểm soát tốt hơn chứng rối loạn thần kinh tự chủ, giảm nhu cầu thở máy và rút ngắn thời gian nằm viện từ 3-7 ngày. Tỷ lệ nhiễm độc magie rất thấp trong các nghiên cứu được đưa vào.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 24 Tháng 12 2025 14:58

Đọc thêm...

Acid folic và 5 MTHF trong thai kỳ

  • PDF.

BS Đinh Thị Thu Trang -

Dị tật ống thần kinh là một trong những dị tật bẩm sinh nặng nề, hình thành rất sớm trong những tuần đầu của thai kỳ. Từ nhiều thập kỷ qua, vai trò của folate trong dự phòng dị tật ống thần kinh đã được khẳng định rõ ràng. Acid folic – dạng tổng hợp của vitamin B9 – được khuyến cáo bổ sung rộng rãi cho phụ nữ chuẩn bị mang thai và trong thai kỳ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả phụ nữ đều chuyển hóa acid folic với hiệu quả như nhau. Sự xuất hiện của 5-methyltetrahydrofolate (5-MTHF) – dạng folate hoạt động sinh học – cùng với các vấn đề như đột biến gen MTHFR và sự tích tụ acid folic chưa chuyển hóa (UMFA) đã đặt ra câu hỏi về việc lựa chọn dạng folate phù hợp trong thai kỳ.

Bài chuyên đề này nhằm tổng quan vai trò của acid folic và 5-MTHF trong thai kỳ, làm rõ sự khác biệt giữa hai dạng bổ sung, đồng thời cập nhật các bằng chứng và khuyến cáo lâm sàng hiện nay.

 ACIDFOLIC

1. Tổng quan về folate

Folate là thuật ngữ chung chỉ các dạng tự nhiên của vitamin B9 có trong thực phẩm.

Acid folic là dạng tổng hợp, ổn định, thường được sử dụng trong chế phẩm bổ sung và thực phẩm tăng cường. Sau khi vào cơ thể, acid folic cần trải qua nhiều bước chuyển hóa để trở thành dạng có hoạt tính sinh học.

5-Methyltetrahydrofolate (5-MTHF) là dạng folate hoạt động sinh học chính trong huyết tương, tham gia trực tiếp vào các phản ứng sinh hóa quan trọng, đặc biệt là chu trình methyl hóa và chuyển hóa homocysteine.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 24 Tháng 12 2025 14:56

Đọc thêm...

Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay

  • PDF.

Ths. BSNT. Trần Văn Quốc Việt - 

Tổng quan

Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay là nhóm bệnh lý thường gặp ở chi trên, bao gồm hai nhóm bệnh chính là viêm mỏm trên lồi cầu ngoài (còn gọi là bệnh lý khuỷu tay tennis) và viêm mỏm trên lồi cầu trong (còn gọi là bệnh lý khuỷu tay golfer), trong đó nhóm bệnh lý viêm mỏm trên lồi cầu ngoài hay gặp hơn, với tần suất nhiều hơn khoảng 10 lần viêm mỏm trên lồi cầu trong. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích nhóm bệnh lý viêm mỏm trên lồi cầu ngoài.

Về mặt dịch tễ, bệnh gặp cả nam và nữ với tỷ lệ tương đương, thường gặp ở người từ 30 – 50 tuổi. Cơ chế bệnh sinh do vận động sấp ngửa liên tục khuỷu tay ở tư thế duỗi, các vi chấn thương lặp đi lặp lại do đó làm thoái hóa gân cơ bám vào, lâu ngày dẫn đến rách bán phần thậm chí rách toàn phần. Thực tế tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam chúng tôi hay gặp các bệnh nhân nữ trung niên làm nghề buôn bán và nam giới trung niên làm công việc đồng áng, phụ hồ, thỉnh thoảng gặp những bệnh nhân chấn thương do chơi thể thao: những công việc duỗi và vận động khuỷu liên tục trong thời gian dài.

Về mặt chẩn đoán, bệnh lý được chẩn đoán bằng bệnh sử và thăm khám lâm sàng. Tuy vậy, siêu âm và MRI giúp cung cấp bằng chứng hình ảnh củng cố thêm chẩn đoán. Trong khuôn khổ bài viết chẩn đoán hình ảnh, chúng tôi xin được lược qua phần chẩn đoán lâm sàng và điều trị.

Giải phẫu

Đây là vùng có giải phẫu tương đối phức tạp, chúng tôi tóm tắt bằng một bảng đối sánh nhỏ.

viemmom

Xem tiếp tại đây

 

Điều trị thuốc đái tháo đường ở bệnh nhân bị bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá

  • PDF.

Bs Vũ Thị Lê Thuỳ - 

Khoảng 15%–20% người mắc bệnh đái tháo đường type 2 có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá và đang trên con đường phát triển xơ gan nếu không được điều trị. Tỷ lệ mắc bệnh cao này tương đương hoặc cao hơn so với các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường khác như bệnh thận do đái tháo đường, bệnh võng mạc do đái tháo đường đường hoặc bệnh thần kinh do đái tháo đường. Mặc dù không có loại thuốc hạ đường huyết nào được chấp thuận để điều trị bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá, nhưng trong điều trị bệnh đái tháo đường, nên ưu tiên những phương pháp điều trị có bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả đối với bệnh gan nhiễm mỡ từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu (ví dụ: GLP-1RA và/hoặc pioglitazone, hoặc tirzepatide GIP/GLP-1RA kép), với mục đích kép là điều trị tăng đường huyết và gan nhiễm mỡ. Một khi xơ gan đã hình thành, hiện tại không có phương pháp điều trị hiệu quả nào.

ganmo

Xem tiếp tại đây

Những tiến bộ gần đây trong chẩn đoán nội soi để phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày

  • PDF.

Bs Buì Thị Bích Liễu - 

Khoảng 90% trường hợp ung thư dạ dày (GC) là do nhiễm khuẩn Helicobacter pylori gây ra , và nội soi thực quản dạ dày tá tràng (ESOGDA) có hiệu quả trong phòng ngừa thứ phát GC. Các hình ảnh nội soi dạ dày do nhiễm H. pylori rất đa dạng, và nguy cơ mắc GC thay đổi tùy thuộc vào từng hình thái. Nguy cơ GC được đánh giá bằng cách kết hợp các hình ảnh nội soi và mô bệnh học. Trong phân loại giai đoạn viêm dạ dày và phân loại giai đoạn dị sản ruột dạ dày, nguy cơ GC được xác định bằng đánh giá mô bệnh học. Trong phân loại nội soi dị sản ruột dạ dày, phân loại Kyoto và phân loại Kyoto sửa đổi, nguy cơ được xem xét dựa trên các phát hiện trên nội soi. Tuy nhiên, việc đánh giá các hình ảnh nội soi rất khó khăn vì phải phụ thuộc vào kỹ năng của bác sĩ nội soi. Tương tự, các kết quả mô bệnh học có thể được đánh giá khác nhau bởi các nhà giải phẫu bệnh khác nhau. Đánh giá mô bệnh học bằng sinh thiết có nguy cơ chảy máu; do đó, cần có các phương pháp phân tầng nguy cơ đơn giản và ít xâm lấn hơn. Trí tuệ nhân tạo phân tầng nguy cơ, với tiềm năng cải thiện độ chính xác và tính nhất quán, đã được phát triển cho các đánh giá nội soi và mô học. Việc phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày phù hợp sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế và bệnh nhân, và cần thiết phải đánh giá thêm cần khoảng thời gian theo dõi để điều chỉnh phù hợp với từng nguy cơ cá nhân [2].

nsdd

Xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo