Bs Nguyễn Tam Thăng -

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 01 Tháng 8 2025 10:33
TT CTCH - B - PHCN -
1. Giới thiệu:
- Bàn chân khoèo bẩm sinh là một dị tật bàn chân xảy ra trong thời kỳ bào thai gồm:
Dịch tễ học:

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh -
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương thận cấp (Acute Kidney Injury: AKI) trong thai kỳ là một biến chứng nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng của cả mẹ và thai nhi.
Wang và cộng sự (2022) đã ghi nhận tỷ lệ AKI trong thai kỳ ở các nước có thu nhập cao dao động từ 0,1% đến 0,2%, trong khi ở các nước có thu nhập thấp có thể lên tới 2% hoặc cao hơn.
Tần suất mắc AKI trong thai kỳ đã giảm đáng kể ở các nước phát triển nhờ sự cải thiện của chăm sóc y tế, nhưng vẫn còn là một vấn đề sức khỏe đáng quan tâm ở các nước đang phát triển. Việc chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng tình trạng của mẹ.
Laskow và cộng sự (2023) đã báo cáo về tiên lượng của những phụ nữ mang thai cần lọc máu. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống sót của mẹ tương đối cao (khoảng 90%), nhưng tỷ lệ tử vong chu sinh (thai chết lưu hoặc tử vong sơ sinh) vẫn còn cao, đặc biệt là ở những trường hợp lọc máu khẩn cấp do biến chứng nặng.

CNĐD Trần Diệu Hằng - TTUB
CẮT VÚ LÀ GÌ?
Cắt vú (mastectomy) là một phẫu thuật nhằm loại bỏ một phần hoặc toàn bộ vú, thường được chỉ định trong điều trị ung thư vú. Mặc dù đây là phương pháp hiệu quả để loại bỏ mô ung thư và giảm nguy cơ tái phát, nhưng cắt vú là quyết định lớn, ảnh hưởng mạnh đến thể chất và tâm lý. Bệnh nhân cần được cung cấp đầy đủ thông tin, hỗ trợ và hướng dẫn để thích nghi với những thay đổi sau phẫu thuật.
I. MỤC TIÊU CHĂM SÓC

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 30 Tháng 7 2025 15:44
Bs Nguyễn Hoàng Kim Ngân -
ĐƯỜNG THỞ KHÓ SINH LÝ
Quản lý đường thở ở bệnh nhân nặng là một nhiệm vụ đầy thử thách, với ước tính 45% nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi. Suy tuẩn hoàn (được định nghĩa trong hầu hết các nghiên cứu là có ít nhất 1 lần huyết áp tâm thu < 65 mmHg, hoặc < 90mmHg trên 30 phút; hoặc cần phải bắt đầu dùng hoặc tăng liều thuốc vận mạch hoặc được dùng dịch truyền cứu hộ) được quan sát thấy xảy ra đến 43% các thủ thuật. Giảm oxy máu nghiêm trọng (SpO2 < 80%) được báo cáo xảy ra với tỷ lệ 9%, và ngừng tim là 3% trong các thủ thuật.1 Thất bại trong lần đầu đặt nội khí quản làm tăng có ý nghĩa các nguy cơ sau khi đặt ống, và các bệnh nhân gặp biến cố bất lợi lớn sau khi đặt ống nội khí quản có nguy cơ phải vào khoa chăm sóc đặt biệt (ICU) cao hơn (tỷ lệ chênh đã điều chỉnh [aOR] 1,52, KTC 95% [95% CI] 1,26–1,83); và có tỷ lệ tử vong trong 28 ngày cao hơn (aOR 1,44, 95% CI 1,19–1,74).1 Tần suất các biến cố bất lợi trong đơn vị chăm sóc đặc biệt cao hơn đáng kể so với trong phòng phẫu thuật, nguyên nhân một phần do tìn trạng rối loạn sinh lý tiềm ẩn và dự trữ chức năng kém ở các bệnh nhân ICU. Rối loạn tiềm ẩn chức năng tâm thu, chức năng tâm trương, hoặc cả hai, giảm oxy máu hoặc toan chuyển hoá khiến bệnh nhân ICU chịu nhiều tác động có hại hơn do tác dụng hạ huyết áp của thuốc gây mê, sự ngưng thở và áp lực trong lồng ngực chuyển từ áp lực âm sang áp lực dương.2 Những thách thức cụ thể này được định nghĩa là “đường thở khó sinh lý”, trái ngược với “đường thở khó giải phẫu” có thể hay gặp hơn ở các bệnh nhân phẫu thuật theo chương trình.3 Tuy nhiên, các khó khăn về giải phẫu có thể gặp phải ở các bệnh nhân nặng. Việc thiếu các thiết bị (vd, đèn soi thanh quản có camera hoặc dụng cụ hỗ trợ đặt ống nội khí quản như bougies) và người thực hiện có kỹ năng, cùng với công thái học khó khăn (vd, sự hiện diện của các thiết bị theo dõi cồng kềnh hoặc các thiết bị hỗ trợ cơ quan làm giảm không gian xung quanh giường bệnh nhân và cản trở vị trí tốt nhất để tiếp cận đường thở của người thực hiện), có thể làm tăng các rủi ro liên quan đến việc quản lý đường thở ở cả khoa Cấp cứu (ED) và ICU .1,3,4
