• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo NCKH

Không đồng bộ giữa bệnh nhân và máy thở: Nguyên nhân sinh lý và các khía cạnh lâm sàng

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Yến Linh - 

Mặc dù việc phát hiện sự không đồng bộ về thời điểm giữa bệnh nhân và máy thở ở giai đoạn bắt đầu (triggering) và kết thúc (cycling-off) của chu kỳ hô hấp là khó khăn nếu không đo áp lực thực quản hoặc hoạt động điện của cơ hoành [1], nhưng việc quan sát kỹ các đường cong lưu lượng (flow) và áp lực đường thở (airway pressure) trên màn hình máy thở vẫn cho phép nhận diện lâm sàng các dạng không đồng bộ chính giữa bệnh nhân và máy thở, như nỗ lực hô hấp không hiệu quả (ineffective efforts) — dạng thường gặp nhất — và hiện tượng double-cycling [2].

Nỗ lực hô hấp không hiệu quả (Ineffective efforts)

Để kích hoạt một chu kỳ thở do máy hỗ trợ trong pha thở ra, bệnh nhân trước tiên phải vượt qua áp lực dương cuối thì thở ra nội tại (intrinsic PEEP), sau đó là ngưỡng kích hoạt hít vào của máy thở. Nếu nỗ lực hít vào của bệnh nhân không đủ mạnh để vượt qua gánh nặng này, máy thở sẽ không nhận diện được, dẫn đến hiện tượng không kích hoạt được chu kỳ thở (ineffective triggering).

Hiện tượng này có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào và trong mọi chế độ thở máy, nhưng thường gặp hơn trong chế độ hỗ trợ áp lực (pressure-support ventilation – PSV) so với các chế độ khác [2, 3].

Khi nỗ lực không hiệu quả xảy ra thường xuyên, tức là khi chỉ số không đồng bộ (asynchrony index) vượt quá 10% (số sự kiện không đồng bộ / tổng tần số thở), tần số thở do máy ghi nhận sẽ giảm tương ứng, thấp hơn đáng kể so với tần số thở thực của bệnh nhân [4].

Trong đa số các nghiên cứu, bệnh nhân có nỗ lực không hiệu quả thường xuyên (chiếm khoảng 10–20%) có thời gian thở máy kéo dài hơn [5]. Mặc dù hiện tượng này có thể chỉ phản ánh mức độ tổn thương hô hấp nặng hơn, nhưng cũng có bằng chứng cho thấy nó có thể gây hại [2, 3, 5].

thomay

Xem tiếp tại đây

Phân loại mới của polyp dạ dày: “tốt”, “xấu” và “rất xấu”

  • PDF.

Bs. Huỳnh Minh Nhật - 

Tóm tắt

Polyp dạ dày đang ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Trong nội soi tiêu hóa trên, cần đánh giá bằng ánh sáng trắng và đôi khi kết hợp nội soi nhuộm màu đồng thời phân loại hình thái theo hệ thống Paris. Phần lớn polyp dạ dày có hình ảnh nội soi điển hình và có thể liên quan đến các bệnh lý như nhiễm Helicobacter pylori. Việc chẩn đoán xác định đòi hỏi phải có xét nghiệm mô bệnh học.

Mặc dù đa số polyp là không tân sinh và không cần điều trị, một số có nguy cơ ác tính hoặc đã là ung thư. Do đó, việc hiểu rõ chẩn đoán, phân loại và xử trí polyp dạ dày đóng vai trò quan trọng trong tiên lượng bệnh nhân. Hệ thống phân loại mới chia polyp dạ dày thành ba nhóm: “tốt”, “xấu” và “rất xấu” dựa trên nguy cơ tiến triển ác tính. Mục tiêu là cung cấp mô tả về hình ảnh nội soi, đặc điểm bệnh học, phương pháp điều trị và theo dõi của các loại polyp khác nhau, đồng thời xây dựng các sơ đồ hướng dẫn quản lý lâm sàng.

polypdd

Xem tại đây

Cấy chỉ điều trị béo phì đơn thuần

  • PDF.

BS. Đoàn Trương Minh Thư – YHCT-PHCN

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Đại cương về béo phì

Béo phì đơn thuần là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự gia tăng bất thường khối lượng cơ thể do năng lượng nạp vào vượt quá năng lượng tiêu hao, dẫn đến tích tụ mỡ quá mức trong cơ thể. Đây là một bệnh mạn tính và phức tạp, có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng.

Béo phì được xem là một yếu tố nguy cơ chính của các bệnh chuyển hóa và không lây nhiễm, bao gồm đái tháo đường típ 2, gan nhiễm mỡ không do rượu, tăng huyết áp, bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ), bệnh cơ xương khớp (thoái hóa khớp) và một số loại ung thư. Tăng cân có liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, đặc biệt là tử vong do ung thư và bệnh tim mạch.

Béo phì ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp trong xã hội, góp phần làm gia tăng gánh nặng y tế và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính toàn cầu.

* Về hình thái phân bố mỡ, béo phì được chia thành ba dạng chính:

- Béo phì dạng nam (Béo phì phần trên cơ thể, béo phì kiểu bụng, béo phì hình quả táo, béo phì trung tâm):
Mỡ phân bố chủ yếu ở vùng bụng, thân mình, vai, cánh tay, cổ và mặt. Người bệnh thường có vẻ mặt hồng hào, cơ vân phát triển (khác với hội chứng Cushing). Dạng béo phì này thường gặp ở người ăn nhiều và dễ dẫn đến các biến chứng chuyển hóa như hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường, đái tháo đường típ 2, bệnh gút, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh túi mật và ung thư vú.

- Béo phì dạng nữ (Béo phì phần dưới cơ thể, béo phì hình quả lê):
Mỡ phân bố chủ yếu ở phần dưới cơ thể như khung chậu, vùng thắt lưng, mông và đùi. Người bệnh thường có da xanh, cơ kém phát triển, dễ suy nhược, có thể kèm theo suy tĩnh mạch chi dưới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ.

- Béo phì hỗn hợp:
Mỡ phân bố tương đối đồng đều toàn thân. Những trường hợp béo phì nặng thường thuộc thể hỗn hợp.

caycghi

Xem tiếp tại đây

Cập nhật chẩn đoán và hướng điều trị nhiễm trùng khớp nhân tạo theo ICM 2025

  • PDF.

BSCKII. Đỗ Xuân Quang - 

I. TỔNG QUAN VÀ PHÂN LOẠI LÂM SÀNG

Nhiễm trùng khớp nhân tạo (PJI) là một thử thách lớn trong ngoại khoa chỉnh hình. Việc nhận diện sớm các triệu chứng đóng vai trò sống còn trong việc bảo tồn chi cho bệnh nhân.

1. Phân loại theo thời gian

Nhiễm trùng cấp tính: Các triệu chứng khởi phát trong vòng dưới 4 tuần kể từ khi phẫu thuật.

Nhiễm trùng mạn tính: Các triệu chứng kéo dài hoặc xuất hiện sau 4 tuần.

Nhiễm trùng cấp tính muộn (Hematogenous): Xuất hiện đột ngột trên một khớp nhân tạo đang hoạt động bình thường, thường do vi khuẩn di chuyển từ một ổ nhiễm trùng khác qua đường máu.

2. Triệu chứng lâm sàng điển hình

Dấu hiệu toàn thân: Bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, ớn lạnh kèm theo tình trạng mệt mỏi kéo dài.

Dấu hiệu tại chỗ: Đau tại khớp là triệu chứng phổ biến nhất. Đi kèm là tình trạng sưng đỏ vết mổ và giảm tầm vận động (ROM) của khớp rõ rệt.

Dấu hiệu muộn: Xuất hiện dịch mủ chảy qua vết mổ hoặc hình thành lỗ dò (sinus tract) thông trực tiếp từ da vào đến khớp. Trên hình ảnh học (Xquang, CT-scan) có thể thấy dấu hiệu lỏng khớp hoặc mất vững implant.

II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Theo đồng thuận ICM 2025, chẩn đoán xác định PJI được thiết lập khi có ít nhất 1 trong 2 tiêu chuẩn chính:

Sự hiện diện của đường rò: Có đường dò thông từ bề mặt da vào tới tận khớp nhân tạo hoặc nhìn thấy implant qua vết thương.

Kết quả nuôi cấy vi khuẩn: Phân lập được cùng một loại vi khuẩn gây bệnh từ 2 mẫu mô hoặc dịch khớp trở lên (được lấy trong các điều kiện vô trùng riêng biệt).

Xem tiếp tại đây

Cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư âm hộ theo ESGO 2023

  • PDF.

Bs CK1 Phạm Ngọc Na - TTUB

1. Các khuyến cáo chung

  • Kế hoạch đánh giá giai đoạn và điều trị nên được thực hiện dựa trên cơ sở đa chuyên khoa và dựa trên kiến thức về các yếu tố tiên lượng, tác dụng phụ và chất lượng cuộc sống [V, B].
  • Bệnh nhân cần được tư vấn kỹ lưỡng về kế hoạch chẩn đoán và điều trị cũng như các phương án thay thế, cả nguy cơ và lợi ích của tất cả các lựa chọn [V, B].
  • Việc điều trị nên được thực hiện bởi một đội ngũ chuyên gia trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư âm hộ [V, B].
  • Khuyến khích bệnh nhân ung thư âm hộ tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng [V, B].
  • Chăm sóc hỗ trợ và hỗ trợ tâm lý nên được cung cấp cho tất cả bệnh nhân ung thư âm hộ trong suốt quá trình điều trị [V, B].

2. Chẩn đoán

Khuyến cáo

  • Khám âm hộ đối với phụ nữ có các triệu chứng tại âm hộ [V, B].
  • Khuyến khích vẽ sơ đồ lâm sàng và/hoặc chụp ảnh tổn thương [V, B].
  • Bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ ung thư âm hộ, chẩn đoán nên được xác định bằng sinh thiết bấm hoặc sinh thiết bằng dao. Tránh sinh thiết trọn để chẩn đoán ban đầu, vì điều này có thể gây trở ngại cho việc lập kế hoạch điều trị tiếp theo [V, B].
  • Những bệnh nhân có nhiều tổn thương âm hộ, tất cả các tổn thương nên được sinh thiết riêng biệt kèm ghi chép vị trí rõ ràng [V, B].

kaho

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 09 Tháng 4 2026 16:27

You are here Đào tạo