• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Vai trò tiên lượng của troponin ở bệnh nhân suy tim

  • PDF.

BS CKII Trần Lâm

I. MỞ ĐẦU

Hiện nay, suy tim được coi là dịch bệnh của thế kỷ XXI. Đây là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng với tỷ lệ tật bệnh, tử vong và chi phí chăm sóc cao đáng kể. Tầm quan trọng của các chỉ điểm sinh học tim trong chẩn đoán và phân tầng nguy cơ bệnh nhân (BN) suy tim ngày càng tăng. Trong số đó, vai trò của các natriuretic peptides đã được khẳng định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều chưa biết về vai trò của Troponin tim (cTn) trong suy tim, đặc biệt là suy tim mất bù cấp. Tổn thương cơ tim là do thiếu máu cục bộ nặng, và cTn là một chỉ điểm sinh học nhạy và đặc hiệu của tổn thương cơ tim. Do đó, cTn chủ yếu được sử dụng trong chẩn đoán, phân tầng nguy cơ và chăm sóc bệnh nhân (BN) bị hội chứng vành cấp.

Troponin INgày nay, bằng những phương pháp có độ nhạy cao (hs- high sensitivity) với kỹ thuật nano, cTn với những nồng độ ở mức nanogram/lít (gọi tắt là hs-troponin) cũng được phát hiện ở gần như tất cả bệnh nhân bị hội chứng suy tim, đặc biệt là suy tim mất bù cấp (STMBC). Nhiều cơ chế được đề nghị để giải thích tại sao nồng độ cTn tăng ở bệnh nhân suy tim. Hiện tượng chết tế bào cơ tim theo chương trình và tự thực bào do sức căng thành đã được chứng minh. Nhiễm độc tế bào trực tiếp liên quan với viêm, những yếu tố thần kinh thể dịch lưu hành, những tiến trình thâm nhiễm cũng như viêm cơ tim và bệnh cơ tim do stress có thể hiện diện cùng với suy tim và bất thường nồng độ cTn. Sự hiện hữu, mức độ và sự dai dẵng của tăng cTn trong suy tim ngày càng được chấp nhận là yếu tố dự đoán độc lập kết cục xấu ở cả BN suy tim cấp và mạn, tăng hs-cTn liên quan với tăng nguy cơ tử vong. Vì vậy, không nên coi nó là “dương tính giả”.  Hy vọng hs-cTn sẽ được sử dụng thường quy trong lâm sàng để đánh giá tiên lượng và kết quả điều trị ở BN suy tim.

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 05 Tháng 3 2014 11:39

Đọc thêm...

Vitamin D và Bệnh Tim mạch

  • PDF.

TS Phan Đồng Bảo Linh - Nội TM

Thiếu vitamin D, cũng như bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ liên quan khá phổ biến trên khắp thế giới và thường cùng tồn tại. Vitamin D từ lâu đã được biết là một phần thiết yếu của quá trình chuyển hóa xương, mặc dù bằng chứng gần đây cho thấy vitamin D đóng vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh các bệnh khác nhau, bao gồm cả bệnh tim mạch. Bài này nhằm mục tiêu tóm tắt các số liệu mới nhất về tham gia của thiếu vitamin D trong phát triển các yếu tố nguy cơ tim mạch chính: tăng huyết áp, béo phì và rối loạn lipid máu, bệnh đái tháo đường túp 2, bệnh thận mãn tính và rối loạn chức năng nội mô. Ngoài ra, nó còn điểm qua các quan sát gần đây nhất, cũng như dữ liệu can thiệp về ảnh hưởng của vitamin D đối với bệnh tim mạch. Hiện vẫn chưa giải quyết liệu thiếu vitamin D có liên quan nhân quả đến sinh bệnh của bệnh tim mạch hay không, dữ liệu từ các thử nghiệm đổi chứng ngẫu nhiên được thiết kế nhằm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vitamin D trên hậu quả bệnh tim mạch còn đang chờ với dự đoán. Hiện tại chúng ta mới chỉ có thể kết luận rằng thiếu vitamin D là yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập, nhưng liệu bổ sung vitamin D có cải thiện đáng kể hậu quả bệnh tim mạch hay không vẫn còn chưa được biết nhiều.

vitaminD1

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 05 Tháng 3 2014 19:29

Đọc thêm...

Kỹ thuật đặt sonde tiểu nam

  • PDF.

ĐD Nguyễn Thị Hồng Hà - Ngoại TH

Đặt thông niệu đạo là việc làm thường xuyên trên lâm sàng, để dẫn lưu nước tiểu trong bàng quang. Nó có thể giúp cho chúng ta chẩn đoán bệnh hoặc nó là phương pháp điều trị. Nếu chúng ta làm sai kỹ thuật sẽ để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng.

Sơ lược về niệu đạo nam giới:

Về sinh lý chia thành niệu đạo sau (niệu đạo tiền liệt + niệu đạo màng) và niệu đạo trước (niệu đạo xốp). Về phẫu thuật chia thành niệu đạo cố định (niệu đạo tiền liệt + niệu đạo màng + đoạn niệu đạo xốp sau dây treo dương vật) và niệu đạo di động (đoạn niệu đạo xốp trước dây treo dương vật)
- 3 chỗ phình: lồi tinh, hành xốp, hố thuyền
- 4 chỗ hẹp: cổ bàng quang, niệu đạo màng, niệu đạo xốp, lỗ sáo


sond1

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 28 Tháng 2 2014 12:42

Đọc thêm...

Đánh giá kết quả bước đầu điều trị ung thư đại tràng bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Ths Bs Nguyễn Tải - Khoa Ngoại TH

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt đại tràng nội soi trong điều trị ung thư đại tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 07 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến đại tràng được cắt đại tràng bằng phẫu thuật nội soi từ tháng 06/2009 đến tháng 01 năm 2011 tại Khoa Ngoại Tổng hợp bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu một số đặc điểm chung, đặc điểm cận lâm sàng và kết quả sớm cũng như theo dõi ngắn hạn của các bệnh nhân được phẫu thuật.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là 52,7 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 2,5. Tỉ lệ chuyển mổ mở là 14,3%, không có tai biến trong mổ và tỉ lệ biến chứng sau mổ là 28,6% (một trường hợp nhiễm trùng vết mổ, một trường hợp tắc ruột sớm sau mổ). Thời gian phẫu thuật trung bình là 185 phút, thời gian nằm viện trung bình là 15,6 ngày. Với thời gian tái khám trung bình 6 tháng, không có bệnh nhân nào tử vong, chưa phát hiện tái phát tại chỗ và di căn lỗ trocar.

Kết luận: cắt đại tràng qua  nội soi ổ bụng có  hỗ  trợ trong ung thư đại tràng là kỹ thuật khả thi và an toàn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam. 

DSCN2751

Xem toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 22 Tháng 2 2014 16:01

Hướng dẫn thở máy trong ALI và ARDS

  • PDF.

Bs Trần Vũ Kiệt - Khoa ICU

thomay11

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 18 Tháng 10 2014 16:53

You are here Đào tạo