• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Sử dụng Acid tranexamic cho bệnh nhân chấn thương sọ não

  • PDF.

Khoa ICU

Bối cảnh: Tổn thương não sau chấn thương thường kèm theo chảy máu nội sọ có thể làm bệnh nhân trầm trọng hơn sau khi nhập viện. Tranexamic acid (TXA) đã được sử dụng để chứng minh làm giảm chảy máu trong phẫu thuật chọn lựa và có bằng chứng rằng sử dụng ngắn hạn TXA có thể làm giảm tái xuất huyết trong xuất huyết nội sọ tự phát. 

Một nghiên cứu nhằm mục đích xác định hiệu quả và an toàn của TXA trong việc ngăn ngừa xuất huyết nội sọ tiến triển trong CTSN.

Hanexic1

Phương pháp: Đây là một thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng giả dược mù đôi. Nghiên cứu ghi nhận 238 bệnh nhân > 16 tuổi, bị CTSN mức độ vừa đến nặng (thang điểm Glasgow sau hồi sức là 4-12), có chụp CT scan não trong vòng tám giờ sau chấn thương và không có chỉ định phẫu thuật cấp cứu. Loại trừ bệnh nhân nếu họ có rối loạn đông máu hoặc creatinine huyết thanh > 2,0 mg%. 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 08 Tháng 1 2014 15:16

Đọc thêm...

Tương tác gan tim trong suy tim

  • PDF.

TS Phan Đồng Bảo Linh - Nội Tim mạch

Suy tim là một vấn đề sức khỏe cộng đồng chính gây nhập viện thường xuyên, chất lượng cuộc sống sút kém và rút ngắn tuổi thọ. Suy tim làm mất khả năng trường diễn đáp ứng yêu cầu trao đổi chất của các cơ quan đích và cơ xương. Y văn học hiện nay thiếu các bài tổng quan về ảnh hưởng suy tim trên chức năng gan. Trong bài báo này, tác giả tóm tắt các tài liệu sẵn có với hy vọng làm nổi bật sự khác biệt quan trọng trong biểu hiện lâm sàng, kết quả mô học và thông số sinh hóa của bệnh nhân có biểu hiện tổn thương gan cấp tính và mạn tính thứ phát do suy tim. Các tác giả tiếp tục thảo luận về sử dụng các xét nghiệm chức năng gan như một chỉ dấu tiên lượng ở bệnh nhân suy tim, cũng như những tác động của tổn thương gan trên chuyển hóa thuốc ở các bệnh nhân này. Cuối cùng, tác giả đưa ra kiến nghị liên quan đến việc xử lý của cả hai loại tổn thương gan ở những bệnh nhân suy tim.

suytim11

Mời các bạn xem toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 06 Tháng 1 2014 12:52

Viêm gan siêu vi B: Khuyến nghị trong thực hành lâm sàng

  • PDF.

Bs CKI Trần Ngọc Hưng - Khoa YHNĐ

Khuyến nghị 1:

Đánh giá toàn diện và tham vấn đầy đủ cho bệnh nhân là điều rất quan trọng trước khi bắt đầu điều trị.

Đánh giá bao gồm các xét nghiệm sinh hóa, huyết học, tình trạng nhân lên của HBV, tình trạng xơ hóa tại gan, đồng nhiễm HCV,HIV,HDV. Sử dụng bia rượu và tiền sử gia đình trực hệ về HCC,xơ gan. Tham vấn về phòng tránh lây lan, tuân thủ điều trị kể cả vấn đề tâm lý xã hội.

sieuvib1

Khuyến nghị 2:

-Nhiễm virut Viêm gan B mạn:HBsAg (+)> 6 tháng và ALT bình thường. Tình trạng này chưa phải đặc trị. Theo dõi ALT và siêu âm bụng mỗi 3-6 tháng.

-Viêm gan virut B mạn:HBsAg (+)> 6 tháng và ALT > 2 lần giới hạn trên bình thường(ULN). Theo dõi men gan mỗi tháng trong 3 tháng, nếu ALT vẫn cao cần cân nhắc chỉ định đặc trị.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 1 2014 16:42

Đọc thêm...

Tình hình băng huyết sau sanh phải truyền máu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam năm 2012

  • PDF.

Khoa Sản

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 500 ngàn phụ nữ chết hàng năm liên quan đến thai nghén và sanh đẻ, 99% trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển, trong số đó có 150.000 ca chết vì băng huyết sau sanh (BHSS) chiếm 25% tử vong mẹ. BHSS có thể xảy ra ngay sau sanh hay trễ hơn, có thể chảy máu ồ ạt, hay chảy máu kéo dài. Theo TS Vũ Thị Nhung (TP.HCM): "Trong số khoảng 30.000 sản phụ sinh tại Bệnh viện Hùng Vương mỗi năm, băng huyết sau sanh chiếm tỷ lệ từ 1,5%-2%, trong đó có 35% phải truyền máu". Theo thống kê Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM): "Băng huyết sau sanh là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, chiếm tỷ lệ từ 2%-10% tổng số ca. Khảo sát trong nhiều năm liền tại Bệnh viện Từ Dũ, mỗi năm có ít nhất 100 trường hợp sản phụ bị băng huyết sau sinh trong tình trạng nặng".

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam, BHSS chiếm tỉ lệ cao nhất trong 5 tai biến sản khoa, trong đó BHSS nặng vẫn thường là mối nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và sức khỏe sản phụ. Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tàì “Tình hình BHSS phải truyền máu năm 2012 tại  Bệnh viện Quảng Nam” với 2 mục tiêu:

  1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của các ca BHSS nặng cần truyền máu.
  2. Nghiên cứu các nguyên nhân gây BHSS và nhận xét các phương pháp xử trí BHSS cần truyền máu.

bhss1

Xem tiếp toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 21 Tháng 12 2013 21:07

Cắt tử cung toàn phần qua nội soi

  • PDF.

Ths Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh

Cắt tử cung (TC) là một phẫu thuật phổ biến trong thực hành phụ khoa. Có thể cắt TC qua nhiều đường tiếp cận khác nhau: đường mổ bụng hở, đường âm đạo, qua đường nội soi hay những con đường kết hợp. Sự phát triển kỹ thuật nội soi và các kỹ thuật bảo tồn đã góp phần thay đổi quan điểm về vấn đề cắt tử cung. Cắt tử cung qua nội soi là một phẫu thuật thay thế phương pháp phẫu thuật cắt tử cung qua đường bụng và cắt tử cung qua đường âm đạo lần đầu tiên trên thế giới do Harry Reich thực hiện vào tháng 1 năm 1989 tại Mỹ .Trở ngại ban đầu do thời gian mổ kéo dài được khắc phục nhờ kinh nghiệm và nhờ thay đổi kỹ thuật, không cắt TC hoàn toàn bằng nội soi mà là cắt TC đường âm đạo có chuẩn bị bằng nội soi (Garry, 1994).

Hai tác giả Liu và Reich đã chia phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt TC thành nhiều mức độ dựa vào mốc quan trọng là động mạch tử cung (ĐMTC).

- Cắt TC đường âm đạo có nội soi hỗ trợ (Laparoscopic  Assisted Vaginal Hysterectomy- LAVH): hai ĐMTC được cắt qua ngã âm đạo.

- Cắt TC qua nội soi (Laparoscopic Hysterectomy- LH): cắt 2 ĐMTC qua nội soi, phần còn lại  dây chằng cardinal và dây chằng TC – cùng  được làm qua đường âm đạo.

- Cắt TC hoàn toàn qua nội soi (Total Laparoscopic Hysterectomy- TLH): toàn bộ các thì đều được thực hiện qua nội soi, TC có thể lấy qua ngã âm đạo hoặc đường nội soi.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 21 Tháng 12 2013 13:40

Đọc thêm...

You are here Đào tạo