• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Siêu âm đàn hồi mô – Kỹ thuật và ứng dụng

  • PDF.

Ths. BSNT. Trần Văn Quốc Việt

Xuất phát từ ý tưởng khi thăm khám lâm sàng sẽ có động tác sờ: sờ nắn đánh giá độ cứng của cơ quan, tổn thương. Tuy nhiên đối với các tạng nằm sâu dưới bề mặt hoặc các cấu trúc gân cơ khó đánh giá bằng sờ nắn thì siêu âm đàn hồi tỏ ra hữu ích.

Về nguyên lý, siêu âm đàn hồi nhằm đánh giá độ cứng của mô/tổn thương. Đánh giá độ cứng dựa vào mức độ đàn hồi của của mô/tổn thương. Hai phương pháp siêu âm đàn hồi hay được sử dụng gồm đàn hồi nén và đàn hồi sóng biến dạng.

danhoimo 

Hình A mô tả siêu âm đàn hồi nén, kỹ thuật viên nén thủ công bằng tay tạo lực đàn hồi lên vị trí cần đánh giá. Tín hiệu phản hồi cho biết độ cứng của mô/tổn thương. Càng cứng càng ít bị biến dạng. Vì vậy làm ở các mô/tổn thương nằm nông.

Hình B mô tả siêu âm đàn hồi sóng biến dạng, ở chế độ này, không cần tạo lực nén, sóng âm được hội tụ và lan truyền để đánh giá độ biến dạng của mô, gọi là sóng biến dạng. Vì vậy làm ở các mô/tổn thương nằm sâu.

Đối với gan, sử dụng siêu âm đàn hồi sóng biến dạng. Khi thực hiện cần bệnh nhân nín thở. Đặt các ROI ở HPT V, VII, VIII, tránh các mạch máu lớn, ROI nằm cách bề mặt gan 2-3 cm. Siêu âm nhằm đánh giá nền gan, không đánh giá u gan. Vì theo nguyên lý, càng cứng càng ít biến dạng. Nhưng các khối u ác tính không phải khi nào cũng cứng và u lành tính không phải luôn mềm. Kết quả dưới dạng định lượng.

Xem tiếp tại đây

Xét nghiệm máu dị ứng

  • PDF.

CN. Thái Thị Kim Ngân - 

Xét nghiệm máu dị ứng là gì?

Xét nghiệm máu dị ứng đo lượng kháng thể gây dị ứng gọi là immunoglobulin E (IgE). Kháng thể là các protein mà hệ miễn dịch tạo ra để chống lại các tác nhân lạ, chẳng hạn như vi-rút và vi khuẩn. Tuy nhiên, hệ miễn dịch cũng có thể sản xuất chúng để đáp ứng với các tác nhân gây dị ứng. Đây là những chất vô hại, chẳng hạn như phấn hoa và đậu phộng, nhưng có thể gây ra phản ứng dị ứng ở một số người.

Việc có một lượng nhỏ IgE trong máu là bình thường. Tuy nhiên, khi bạn bị phản ứng dị ứng, hệ miễn dịch sẽ coi các chất gây dị ứng là mối đe dọa và tạo ra kháng thể IgE. Điều này làm tăng lượng IgE trong máu và gây ra các triệu chứng dị ứng.

Các chất gây dị ứng phổ biến bao gồm:

  • Phấn hoa
  • Bụi
  • Khuôn
  • Vảy da động vật
  • Một số loại thực phẩm, bao gồm các loại hạt và động vật có vỏ
  • Một số loại thuốc, chẳng hạn như penicillin

Các triệu chứng dị ứng có thể từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào loại dị ứng bạn mắc phải. Chúng có thể bao gồm từ ngứa và hắt hơi đến hen suyễn hoặc thậm chí là tình trạng đe dọa tính mạng gọi là sốc phản vệ .

mau1

Xem tiếp tại đây

Tụy nhẫn ở người trưởng thành

  • PDF.

Ths.BS. Nguyễn Xuân Lâm - 

1.ĐẠI CƯƠNG

Tụy nhẫn là một bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp đặc trưng bởi sự bao bọc một phần hoặc hoàn toàn của phần thứ hai của tá tràng bởi nhu mô tụy [1]. Các nghiên cứu trước đây cho thấy tấn số mắc phải của tụy nhẫn ở giải phẫu tử thi là 3/20000 và khoảng 3/24519 gặp trong mổ [2]. Tuy nhiên, với sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán, bệnh lý này hiện nay được gặp với tần suất cao hơn. Nhiều bệnh nhân với bệnh lý này có thể không có triệu chứng trong suốt cuộc đời và thường được phát hiện tình cờ trên phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có xu hướng biểu hiện triệu chứng lâm sàng sớm trong cuộc đời hoặc trong độ tuổi trưởng thành, thường trong độ tuổi từ 20 đến 50 tuổi [3, 4].

Dựa vào hình thái, tụy nhẫn được chia thành 2 típ: hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. Tụy nhẫn típ hoàn toàn biểu hiện bằng nhu mô tụy bao quanh toàn bộ chu vi phần thứ hai của tá tràng. Trong khi đó, tụy nhẫn típ 2 biểu hiện bằng sự bao quanh không hoàn toàn của nhu mô tụy quanh chu vi phần thứ hai của tá tràng [5]. Ống tụy nhẫn thường dẫn lưu vào ống tụy chính, nhưng có thể thông với ống mật chủ đoạn trong tụy, ống Santorini hoặc ống Wirsung[6].

tuynhan

Hình ảnh tụy nhẫn trên hình ảnh CT-SCAN và MRI

Đọc thêm...

Hướng dẫn quản lý viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim của Hội Tim mạch Châu Âu 2025

  • PDF.

Bs Trương Duy Nghĩa - 

Đây là lần đầu tiên có hướng dẫn kết hợp về “Hội chứng viêm cơ – màng ngoài tim” (IMPS) thay vì tách biệt như trước đây, nhằm phản ánh phổ bệnh liên quan đến viêm cơ – màng ngoài tim, giúp nhận diện sự chồng lấn giữa viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim.

Vai trò nổi bật của hình ảnh học đa phương thức, đặc biệt là cộng hưởng từ tim, trong chẩn đoán và theo dõi bệnh.

Ra đời nhóm thuốc mới – thuốc ức chế IL-1, dành cho các trường hợp viêm màng ngoài tim tái phát, kháng trị.

Khuyến nghị thành lập nhóm đa chuyên khoa IMPS để xử lý các ca bệnh phức tạp hiệu quả hơn.

hsvctim

Xem tại đây

U mỡ nội sọ - Intracranial Lipomas

  • PDF.

Khoa Ngoại TKCS - 

U mỡ nội sọ và nội tủy do nguồn gốc từ việc rối loạn phát triển và có lẽ do sự gián đoạn quá trình thoái triển của màng cứng nguyên thủy.

Dịch tể học của U mỡ nội sọ

Tỉ lệ 8/10.000 ca mổ tử thi. Thường thương tổn nằm ở gần hoặc ở mặt phẳng đường giữa, đặc biệt hay ở thể chai( u mỡ nội sọ ở vùng này thường kết hợp với dị tật không có thể chai (agenesis of corpus callosum)).Củ xám (tuber cinereum), tấm củ não sinh tư, thường ít bị ảnh hưởng. Hiếm khi vùng góc cầu tiểu não và thùy nhộng bị liên quan. Có thể xảy ra riêng lẻ nhưng đôi khi cũng được ghi nhận kết hợp với những dị dạng bẩm sinh khác, như hội chứng 3 nhiễm sắc thể thứ 21 (Down syndrome), Hội chứng Pai, thoát vị não vùng trán, bất thường vùng mặt…Những dị tật bất thường khác ở đường giữa cũng có thể phát hiện như: dị tật không có thể chai, thoát vị tủy màng tủy, tật gai đôi đốt sống (spina bifida).

Chẩn đoán hình ảnh:

CT, MRI thường được xử dụng. Có thể dùng siêu âm ở trẻ em.

  • CT : hình ảnh giảm đậm độ, có thể có hình ảnh calci hóa ở ngoại biên ( khó thấy trên MRI). Chẩn đoán phân biệt trên CT với nang biểu bì, u quái, u tế bào mầm.
  • MRI: thương tổn đặc hiệu ở đường giữa là tín hiệu của mở (tăng tín hiệu trên T1W1, giảm tín hiệu trên T2W1)

ct u

Xem tiếp tại đây

 
You are here Đào tạo Đào tạo nhân viên BV