• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Y học thường thức

Rối loạn chuyển hóa lipid máu- Những điều cần biết

  • PDF.

Khoa Nội Tim mạch - 

1. Rối loạn chuyển hóa lipid máu là gì?

Rối loạn chuyển hóa lipid máu (hay còn gọi là rối loạn mỡ máu) là tình trạng bất thường về nồng độ các chất béo trong máu, bao gồm:

- Cholesterol toàn phần

- LDL-C (cholesterol “xấu”)

- HDL-C (cholesterol “tốt”)

- Triglycerid.

Khi các chỉ số này vượt quá giới hạn bình thường, đặc biệt là LDL-C tăng cao, HDL-C giảm, Triglycerid tăng, cơ thể có nguy cơ đối mặt với các bệnh lý tim mạch nghiêm trọng như: xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

2. Vì sao đây là vấn đề đáng lo ngại?

Rối loạn lipid máu là bệnh âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng, thường chỉ được phát hiện qua xét nghiệm máu. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm:

- Tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tắc mạch máu não.

- Gây xơ vữa động mạch, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do bệnh tim mạch.

- Tăng gánh nặng y tế, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tuổi thọ.

Đặc biệt, bệnh ngày càng trẻ hóa do lối sống thiếu lành mạnh, ăn uống nhiều chất béo, lười vận động, hút thuốc lá, uống rượu bia.

Đọc thêm...

Quy trình chăm sóc toàn diện bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nặng ở người cao tuổi tại khoa Nội Tổng hợp Bệnh viện đa khoa Quảng Nam

  • PDF.

CN Trần Thị Nga - 

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễn mạn tính, gây tổn thương đặc trưng ở màng hoạt dịch của khớp. Đối với người cao tuổi, bệnh thường tiến triển nặng với các biến chứng phức tạp như biến dạng khớp, teo cơ và suy giảm chức năng vận động trầm trọng. Việc chăm sóc đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa và kỹ năng chuyên môn cao từ đội ngũ điều dưỡng.

1. Đánh giá tình trạng bệnh nhân (Nursing Assessment)

Để lập kế hoạch chăm sóc hiệu quả, điều dưỡng cần thực hiện đánh giá hệ thống:

  • Tình trạng đau: Sử dụng thang điểm VAS (Visual Analog Scale). Lưu ý đặc điểm đau khớp đối xứng, đau tăng về đêm và sáng sớm, kèm theo tình trạng cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.
  • Chức năng vận động: Đánh giá mức độ biến dạng khớp (bàn tay gió lùa, ngón tay hình cổ thiên nga) và khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) thông qua chỉ số Barthel.
  • Tình trạng dinh dưỡng và loãng xương: Người cao tuổi bị VKDT nặng thường có nguy cơ loãng xương thứ phát cao do dùng Corticoid kéo dài và ít vận động.
  • Tác dụng phụ của thuốc: Theo dõi sát các dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa (do NSAIDs), nhiễm trùng cơ hội (do thuốc sinh học hoặc ức chế miễn dịch) và tình trạng chức năng gan, thận.

khop

Xem tiếp tại đây

Viêm thân sống – đĩa đệm (spondylodiscitis): Nhận biết sớm, chẩn đoán và điều trị hiệu quả

  • PDF.

Bs Trình Trung Phong - 

1. Đại cương

Viêm thân sống – đĩa đệm (Spondylodiscitis) là tình trạng nhiễm trùng thân đốt sống và đĩa đệm gian đốt, thường do vi khuẩn, đôi khi do lao hoặc nấm. Đây là một bệnh lý nghiêm trọng, tiến triển âm thầm, dễ bị bỏ sót ở giai đoạn sớm nhưng có thể gây biến chứng nặng nề như áp xe cạnh sống, chèn ép tủy sống, liệt chi, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp hơn ở người cao tuổi, người có bệnh nền mạn tính (đái tháo đường, suy thận, suy giảm miễn dịch) hoặc sau các thủ thuật xâm lấn cột sống.

Gần đây tại khoa Nội Tổng hợp có nhiều bệnh nhân nhập viện vì đau lưng, điều trị bệnh ngoài nhiều nơi không đỡ nên nhập viện. Vào khoa được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán: viêm thân sống- đĩa đệm và điều trị tích cực. Trước mắt bệnh có diễn biến theo chiều hướng thuận lợi tốt.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

2.1. Nguyên nhân

Viêm thân sống – đĩa đệm chủ yếu do nhiễm trùng, trong đó:

  • Vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất
  • Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng): chiếm tỷ lệ cao nhất
  • Vi khuẩn Gram âm: E. coli, Klebsiella… (thường gặp ở người cao tuổi, nhiễm trùng tiết niệu)
  • Lao cột sống (Mycobacterium tuberculosis): còn gặp tại các nước đang phát triển
  • Nấm: hiếm gặp, thường ở người suy giảm miễn dịch

Xem tiếp tại đây

HIV Duo - bước đột phá trong kỷ nguyên xét nghiệm huyết thanh học

  • PDF.

CN. Nguyễn Đào Hiếu – Khoa HH-TM

Đại cương

Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV): Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus), tác nhân gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải AIDS (Acquired Immunodeficiency Virus) và là một gánh nặng toàn cầu trong hơn ba thập kỷ qua.1,2 HIV lây truyền qua quan hệ tình dục, máu và các sản phẩm máu bị nhiễm hoặc từ người mẹ nhiễm HIV truyền sang con trước, trong và sau khi sinh.3 Kháng nguyên HIV p24 trong mẫu máu của bệnh nhân mới nhiễm có thể được phát hiện sớm sau 2‑3 tuần sau khi nhiễm.4,5 Kháng thể kháng HIV có thể được phát hiện trong huyết thanh từ khoảng 4 tuần sau khi nhiễm.4,6

Tại Hoa Kỳ, các xét nghiệm huyết thanh HIV được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt trước đây được phân loại là xét nghiệm thế hệ thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, dựa trên các kỹ thuật đang phát triển và sự cải thiện đáng kể về độ nhạy của xét nghiệm. [ 9 , 10 ] Với nhiều xét nghiệm HIV mới và được cải tiến, sự phân biệt rõ ràng giữa các thế hệ HIV đã bị mờ đi, và do đó, việc sử dụng danh pháp “thế hệ” xét nghiệm HIV không còn được khuyến nghị nữa. [ 11 ] Các xét nghiệm kháng thể thế hệ thứ nhất và thứ hai hiện được gọi là xét nghiệm nhạy cảm với IgG, các xét nghiệm thế hệ thứ ba là xét nghiệm nhạy cảm với IgM/IgG, và thế hệ thứ tư là xét nghiệm miễn dịch kháng nguyên-kháng thể ( Hình 1 ). [ 8 , 9 , 10 , 12 ] Hơn nữa, việc sử dụng thuật ngữ “xét nghiệm HIV nhanh” để mô tả các xét nghiệm tại chỗ không còn được khuyến nghị nữa, vì một số xét nghiệm dựa trên thiết bị, trong phòng thí nghiệm hiện có khả năng tạo ra kết quả xét nghiệm HIV trong vòng chưa đầy một giờ. Thay vào đó, loại xét nghiệm được coi là xét nghiệm tại phòng thí nghiệm hoặc xét nghiệm tại chỗ. [ 10 , 11 ]

hiv duo

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 10 Tháng 1 2026 16:09

Ảnh hưởng của thời tiết chuyển mùa, trời lạnh – độ ẩm cao đến sức khỏe mọi người

  • PDF.

Bs Trình Trung Phong – Khoa Nội A

Khuyến cáo phòng bệnh, đặc biệt đối với người cao tuổi và người có bệnh hô hấp mạn tính

Hiện nay, thời tiết đang bước vào giai đoạn chuyển mùa, nhiệt độ giảm dần, trời lạnh hơn kèm theo độ ẩm không khí tăng cao. Đây là điều kiện thuận lợi làm gia tăng các bệnh lý về đường hô hấp, tim mạch và các bệnh mạn tính, đặc biệt ở người cao tuổi, trẻ nhỏ và những người có bệnh nền. Việc chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe đúng cách trong giai đoạn này là hết sức cần thiết nhằm hạn chế các biến chứng nguy hiểm và giảm gánh nặng điều trị.

1. Ảnh hưởng của thời tiết lạnh, ẩm đến sức khỏe

Khi nhiệt độ môi trường giảm và độ ẩm không khí cao, cơ thể phải thích nghi với sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Ở người cao tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt suy giảm, hệ miễn dịch yếu hơn nên rất dễ bị ảnh hưởng.

Đối với hệ hô hấp, thời tiết lạnh và ẩm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như cảm lạnh, cúm, viêm mũi họng, viêm phế quản, viêm phổi. Đặc biệt, người mắc các bệnh hô hấp mạn tính như COPD, hen phế quản, giãn phế quản dễ bị tái phát, nặng lên với các triệu chứng ho, khò khè, khó thở, đờm nhiều.

Đối với hệ tim mạch, trời lạnh làm co mạch, tăng huyết áp, tăng gánh nặng cho tim, dễ dẫn đến các biến cố như tăng huyết áp không kiểm soát, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, nhất là ở người cao tuổi.

Ngoài ra, độ ẩm cao còn tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh trong môi trường sống, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp và các bệnh dị ứng.

Đọc thêm...

You are here Tin tức Y học thường thức