• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

U mỡ nội sọ - Intracranial Lipomas

  • PDF.

Khoa Ngoại TKCS - 

U mỡ nội sọ và nội tủy do nguồn gốc từ việc rối loạn phát triển và có lẽ do sự gián đoạn quá trình thoái triển của màng cứng nguyên thủy.

Dịch tể học của U mỡ nội sọ

Tỉ lệ 8/10.000 ca mổ tử thi. Thường thương tổn nằm ở gần hoặc ở mặt phẳng đường giữa, đặc biệt hay ở thể chai( u mỡ nội sọ ở vùng này thường kết hợp với dị tật không có thể chai (agenesis of corpus callosum)).Củ xám (tuber cinereum), tấm củ não sinh tư, thường ít bị ảnh hưởng. Hiếm khi vùng góc cầu tiểu não và thùy nhộng bị liên quan. Có thể xảy ra riêng lẻ nhưng đôi khi cũng được ghi nhận kết hợp với những dị dạng bẩm sinh khác, như hội chứng 3 nhiễm sắc thể thứ 21 (Down syndrome), Hội chứng Pai, thoát vị não vùng trán, bất thường vùng mặt…Những dị tật bất thường khác ở đường giữa cũng có thể phát hiện như: dị tật không có thể chai, thoát vị tủy màng tủy, tật gai đôi đốt sống (spina bifida).

Chẩn đoán hình ảnh:

CT, MRI thường được xử dụng. Có thể dùng siêu âm ở trẻ em.

  • CT : hình ảnh giảm đậm độ, có thể có hình ảnh calci hóa ở ngoại biên ( khó thấy trên MRI). Chẩn đoán phân biệt trên CT với nang biểu bì, u quái, u tế bào mầm.
  • MRI: thương tổn đặc hiệu ở đường giữa là tín hiệu của mở (tăng tín hiệu trên T1W1, giảm tín hiệu trên T2W1)

ct u

Xem tiếp tại đây

 

Xử trí nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu: Những điều bạn cần biết

  • PDF.

BS Võ Văn Phong -

Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có các tình trạng phẫu thuật cấp cứu sẽ được hưởng lợi từ một phương pháp tiếp cận được tiêu chuẩn hóa để đánh giá, hồi sức và quản lý nhằm kiểm soát nguồn nhiễm. Trong nhóm bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu (ACS: acute care surgery) có một tập hợp đa dạng các bệnh nhân với một loạt các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với bệnh lý phẫu thuật và sự tiến triển của bệnh, cùng với một loạt các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn huyết. Vì vậy, một phương pháp tiếp cận có hệ thống là hữu ích khi tiếp cận một bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết không ổn định, cuối cùng được điều chỉnh theo cách lấy bệnh nhân làm trung tâm, dựa trên tình trạng của họ. Mục đích của bài viết này là cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc xử trí một bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có tình trạng phẫu thuật cấp cứu.

BẮT ĐẦU VỚI NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN: NHIỄM KHUẨN HUYẾT ĐƯỢC ĐỊNH NGHĨA NHƯ THẾ NÀO? ĐỊNH NGHĨA, TỶ LỆ MẮC VÀ TẦM QUAN TRỌNG

Theo các hướng dẫn của Surviving Sepsis Guidelines, nhiễm khuẩn huyết được định nghĩa là "rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do phản ứng bất thường của vật chủ đối với nhiễm trùng." Mặc dù có vô số tiến bộ trong chăm sóc sức khỏe, nhiễm khuẩn huyết vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các bệnh viện ở Hoa Kỳ (30-50% số ca tử vong tại bệnh viện). Trong số các bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại đơn vị hồi sức tích cực ngoại khoa, tỷ lệ tử vong ngắn hạn đã được cải thiện theo thời gian, nhưng kết quả lâu dài vẫn còn kém với tỷ lệ tử vong 10% ở ngày thứ 30, 20% ở 1 năm, và 33% bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo mãn tính. Do đó, việc tối ưu hóa chăm sóc cho những bệnh nhân này từ khi xác định nhiễm khuẩn huyết đến khi kiểm soát nguồn nhiễm và cuối cùng là giảm liều điều trị là rất quan trọng.

Xem tiếp tại đây

Thực hành gây mê hiện đại, tối ưu hóa sự an toàn và phục hồi bệnh nhân

  • PDF.

Bs Hồ Thiên Diễm - 

GIỚI THIỆU

Gây mê hồi sức, một thành phần quan trọng của y học hiện đại, đã trải qua sự phát triển và đạt được những tiến bộ đáng kể. Từ việc theo dõi cơ bản và giảm đau thành một hệ thống chăm sóc chuyên khoa có sự hợp tác đa ngành. Mối quan tâm về an toàn của bệnh nhân bao gồm tất cả các giai đoạn quanh phẫu thuật, bao gồm chuẩn bị trước phẫu thuật, quản lý trong khi phẫu thuật và phục hồi sau phẫu thuật. Những đổi mới gần đây về thuốc gây mê, công nghệ theo dõi và kỹ thuật gây mê đã cho thấy triển vọng trong việc giảm thiểu tỷ lệ biến chứng trong khi phẫu thuật, quản lý đau không đầy đủ, nguy cơ nhiễm trùng và phục hồi chức năng chậm trễ. Bằng cách áp dụng các công nghệ và phương pháp tiên tiến, các chuyên gia gây mê có thể tiếp tục cải thiện chăm sóc hậu phẫu và đạt được kết quả tốt hơn cho bệnh nhân

GAYMEHD

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 03 Tháng 9 2025 09:28

Khuyến nghị của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ về thời gian duy trì ức chế TSH ở bệnh nhân trưởng thành mắc ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định

Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa (DTC) bao gồm các loại ung thư biểu mô nhú, ung thư biểu mô nang và ung thư biểu mô tế bào ưa acid, chiếm phần lớn (>90%) trong tất cả các ca ung thư tuyến giáp. Tại Hoa Kỳ, ước tính có 44.020 trường hợp ung thư tuyến giáp mới trong năm 2024, 2,3 so với con số 37.200 ca vào năm 2015 khi các hướng dẫn cuối cùng của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA) được công bố. Tỷ lệ mắc bệnh hàng năm đã tăng gấp ba lần, từ 4,9 trên 100.000 người vào năm 1975 lên 14,3 trên 100.000 người vào năm 2015.

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp: phẫu thuất, iode phóng xạ, xạ trị, hóa trị, liệu pháp nhắm trúng đích, liệu pháp hormon thay thế….

Trong đó liệu pháp Hormon thay thế là một phương pháp điều trị nhằm thay thế hoặc bổ sung các hormon được sinh sản bởi tuyến giáp nhằm mục đích:

  • Thay thế hormon tuyến giáp sau phẫu thuật.
  • Ức chế sự phát triển của tế bào ung thư tuyến giáp.

Theo khuyến nghị của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA) năm 2025:

A. Không khuyến nghị duy trì việc ức chế TSH lâu dài cho các bệnh nhân mắc bệnh ở mức độ rủi ro thấp hoặc trung bình mà không có bằng chứng tái phát về mặt sinh hóa hoặc cấu trúc. (Khuyến nghị có điều kiện, Mức độ tin cậy của bằng chứng thấp)

B. Nên đánh giá lại lợi ích so với rủi ro của việc ức chế TSH và mục tiêu TSH theo thời gian. (Tuyên bố Thực hành Tốt)

kgiap

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 04 Tháng 9 2025 06:34

Hội chứng ruột kích thích

  • PDF.

Bs. Thái Đình Hạ Thy -

1. ĐẠI CƯƠNG

Hội chứng ruột kích thích là một bệnh lý tiêu hoá mạn tính, diễn biến liên tục hoặc gián đoạn với đặc trưng là đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hoá như đi chảy, táo bón hoặc xen kẽ cả hai

2. NGUYÊN NHÂN

Hội chứng ruột kích thích là một bệnh lý, một tràng thái không hoà hợp giữa tinh thần và nội tạng hơn là một bệnh lý đặc hiệu, không có một bất thường rõ ràng hoặc một nguyên nhân đặc hiệu

3.CHẨN ĐOÁN

3.1 Chẩn đoán xác định

3.1.1 Lâm sàng: Tiêu chuẩn ROME III

- Đau bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng ít nhất 3 ngày mỗi tháng trong 3 tháng qua, phối hợp với 2 hoặc 3 các triệu chứng sau: 

  • Giảm đi sau đại tiện. 
  • Thay đổi hình dạng khuôn phân. 
  • Thay đổi số lần đi đại tiện. 

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 29 Tháng 8 2025 16:36

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV