• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Liệu pháp kháng virus trong chiến lược dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con

  • PDF.

Bs Đinh Thị Thu Trang - 

Viêm gan siêu vi B (VGSVB) là một bệnh phổ biến toàn cầu, do nhiễm vi rút viêm gan B (HBV), có thể gây ra VGSVB cấp và mạn, có thể dẫn tới xơ gan và ung thư gan, tạo ra gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu.

Các con đường lây truyền HBV phổ biến là lây truyền theo chiều dọc từ mẹ sang con và theo chiều ngang (thông qua tiếp xúc gần gũi kéo dài, qua đường máu và quan hệ tình dục,…). Hầu hết gánh nặng các bệnh liên quan đến HBV là do nhiễm trùng mắc phải ở giai đoạn nhũ nhi do phơi nhiễm với HBV chu sinh hoặc thời thơ ấu.

Để giảm tỉ lệ mắc VGSVB mạn trong nỗ lực toàn cầu nhằm giảm gánh nặng của bệnh, WHO đưa ra một loạt các hướng dẫn dự phòng lây truyền từ mẹ sang con (LTTMSC). Bộ Y tế Việt Nam cũng đưa ra các hướng dẫn về chẩn đoán, phòng chống và cũng như loại trừ VGSVB, nhằm mục tiêu chung với thế giới là giảm tác động của VGSVB lên dân số.

1. Tầm soát ở phụ nữ đang có thai

Nhiều hiệp hội và tổ chức như WHO, CDC, ACOG, EASL, APASL đồng thuận khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai nên được xét nghiệm HBsAg ít nhất một lần và càng sớm càng tốt trong thai kỳ.

Việc sàng lọc nên được thực hiện trong mỗi lần mang thai, bất kể việc tiêm phòng HBV trước đó hay kết quả xét nghiệm HBsAg âm tính trước đó

WHO khuyến cáo xét nghiệm ALT, HBV DNA và xét nghiệm không xâm lấn khảo sát mức độ của bệnh gan để đánh giá bệnh nhân đủ điều kiện để điều trị lâu dài vì sức khỏe của chính họ. Nếu không đủ tiêu chuẩn điều trị lâu dài, đánh giá điều kiện để điều trị dự phòng LTTMSC.

viêm gan B

Xem tiếp tại đây

Dự phòng nhiễm trùng sau phẫu thuật sọ não: Từ khuyến cáo đến thực hành

  • PDF.

Bs. Đoàn Kim Nhựt - 

Nhiễm trùng sau phẫu thuật sọ não là một trong những biến chứng đáng lo ngại nhất trong lĩnh vực ngoại thần kinh. Không chỉ làm tăng nguy cơ tử vong, biến chứng này còn kéo dài thời gian nằm viện, làm tăng chi phí điều trị và ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng hồi phục thần kinh của người bệnh. Trong bối cảnh tình trạng vi khuẩn đa kháng thuốc ngày càng gia tăng, việc sử dụng kháng sinh hợp lý và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc vô khuẩn là yếu tố then chốt giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng. Bài viết này tổng hợp các khuyến cáo quốc tế và bằng chứng lâm sàng mới nhất, nhằm giúp nhân viên y tế hiểu rõ hơn về cách dự phòng và xử trí nhiễm trùng sau phẫu thuật thần kinh.

1. Gánh nặng nhiễm trùng sau phẫu thuật thần kinh

Các nghiên cứu phân tích hơn 132.000 trường hợp phẫu thuật thần kinh cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng nói chung khoảng 5,3%, trong đó nhiễm trùng vết mổ (SSI) chiếm 1,8%. Các tác nhân thường gặp gồm vi khuẩn Gram dương (56%) như tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus, khoảng 16%), tụ cầu da (CoNS, 29%) và Gram âm (41%) như Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa hay pneumoniae. Một tỷ lệ nhỏ (2–3%) do nấm gây ra.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bao gồm: rò dịch não tủy, phẫu thuật cấp cứu, thời gian mổ kéo dài, can thiệp lại, nằm hồi sức tích cực (ICU) từ 7 ngày trở lên, hoặc đặt dẫn lưu não thất ngoài (EVD).

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 05 Tháng 11 2025 16:05

Khởi trị sớm nhóm thuốc ức chế SGLT2 cho bệnh nhân suy tim cấp giai đoạn nhập viện

  • PDF.

BS. Bùi Văn Bình - 

I. MỞ ĐẦU

Suy tim cấp (STC) là một tình trạng lâm sàng nghiêm trọng, đòi hỏi phải nhập viện khẩn cấp và thường đi kèm với tỷ lệ tử vong cao cũng như nguy cơ tái nhập viện đáng kể. Các lựa chọn điều trị hiện tại cho STC bao gồm thuốc lợi tiểu quai, chủ yếu tập trung vào việc giảm sung huyết và cải thiện triệu chứng. Mặc dù thuốc lợi tiểu quai vẫn là nền tảng của việc quản lý STC nhưng chúng chưa chứng minh được hiệu quả giảm tử vong đáng kể và có liên quan đến các tác dụng phụ trên thận. Nhiều thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên kiểm tra các can thiệp dược lý ở những bệnh nhân nhập viện vì STC không tìm thấy kết quả cải thiện sau khi xuất viện, làm nổi bật một nhu cầu quan trọng trong việc điều trị bệnh nhân STC. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới nhằm cải thiện tiên lượng cho người bệnh luôn là ưu tiên hàng đầu.

Thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2i) là một nhóm thuốc có tác dụng hạ đường huyết độc đáo. Chúng tác động lên các ống lượn gần để ức chế tái hấp thu glucose và natri, do đó thúc đẩy glucose niệu và natri niệu ở bệnh nhân tiểu đường týp 2. Ngoài vai trò trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường, các chất ức chế SGLT2 đã cho thấy những lợi ích tim mạch vượt trội trong các thử nghiệm lâm sàng, làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong. Đáng chú ý, những loại thuốc này đã được phát hiện là làm giảm nguy cơ nhập và tử vong do tim mạch, bất kể tình trạng tiểu đường và phân suất tống máu (EF), với lợi ích được quan sát thấy ở cả suy tim có EF giảm (HFrEF) và EF bảo tồn (HFpEF) ."Hiệu ứng nhóm" có lợi này đã được chứng minh một cách nhất quán trên nhiều chất ức chế SGLT2 khác nhau

sglt2

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 02 Tháng 11 2025 20:20

Vạt nhánh xuyên động mạch quay

  • PDF.

TT CTCH - Bỏng

GIỚI THIỆU

Vạt cẳng tay quay, được biết đến ở nước ngoài với tên gọi “vạt Trung Quốc (Chinese flap)”, được Guofan Yang báo cáo lần đầu tiên vào năm 1981 và nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng ngay từ giai đoạn đầu sau khi được giới thiệu.

Tuy nhiên, chỉ định của loại vạt này ngày càng bị thu hẹp, do phải hi sinh một trong hai động mạch chính của cẳng tay và do sẹo ghép da xấu ở vùng cho vạt.

Trước những hạn chế đó, các học giả trong và ngoài Trung Quốc đã tiến hành nhiều nghiên cứu giải phẫu về các nhánh xuyên ở mặt quay của cẳng tay, từ đó đề xuất một loạt kỹ thuật phẫu thuật cải tiến, bao gồm:

  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn gần (proximal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên mặt sau – ngoài cẳng tay giữa (posterolateral mid-forearm perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên động mạch quay đoạn xa (distal radial artery perforator flap)
  • Vạt nhánh xuyên vùng hố lào (snuff-box radial perforator flap).

vat

Xem tiếp tại đây

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản trong bệnh lý ho ra máu

  • PDF.

CN Trần Đình Vân – 

Tổng quan

Chụp CT( Chụp cắt lớp vi tính: Computed Tomography Scan ) động mạch phế quản là kỹ thuật sử dụng tia X để tạo ảnh chụp chi tiết các động mạch phế quản, thường kết hợp với tiêm thuốc cản quang để làm nổi bật các mạch máu, giúp bác sĩ chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý như ho ra máu do giãn phế quản hoặc khối u

Chụp CT động mạch phế quản là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh nhanh, ít xâm lấn và cho độ nhạy cao.

1. Giải phẫu

Các động mạch phế quản bình thường là các mạch máu nhỏ # <1.5mm ( hình 1|), chủ yếu xuất phát từ động mạch chủ ngực (ngang đốt sống ngực D5-D6), một tỉ lệ nhỏ xuất phát từ các nhánh của động mạch chủ như động mạch dưới đòn, động mạch nách, động mạch hoành dưới... Nhưng dù xuất phát ở đâu chúng đều đi qua rốn phổi vào phổi, rồi chia ra các nhánh tuỳ hành với phế quản, cấp máu nuôi dưỡng đường thở (cây phế quản) và nhu mô phổi (phế nang, tổ chức kẽ của phổi) .

Động mạch phế quản gọi là giãn khi mạch máu   # >2mm ( hình 2) sẽ cho hình ảnh rõ trên CTA (computed tomography angiography ) động mạch phế quản.

ctpq

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 25 Tháng 10 2025 07:40

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV