• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Bệnh lý tuyến giáp và thai kỳ

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định - 

PHẦN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể, có hình cánh bướm, thường nằm ở phía trước, dưới của cổ. Chức năng của tuyến giáp là tổng hợp và dự trữ hormon giáp. Khi được phóng thích vào máu, hormon giáp sẽ đến tác động tại các mô đích trong cơ thể.

Hormon giáp có vai trò quan trọng trong điều tiết chuyển hóa, điều chỉnh quá trình giải phóng năng lượng của cơ thể. Hormon giáp cũng ảnh hưởng đến sự phát triển trí não, hô hấp, tim và các chức năng hệ thống thần kinh, sinh nhiệt độ cơ thể, sức mạnh cơ bắp, da, chu kỳ kinh nguyệt, trọng lượng.…

Bệnh lý tuyến giáp rất đa dạng, đặc biệt phụ nữ thời kỳ mang thai đã làm thay đổi hoạt động sinh lý của tuyến giáp và có thể làm thay đổi quá trình diễn tiến bệnh tuyến giáp.

Bệnh lý tuyến giáp thời kỳ mang thai khá phổ biến và đa dạng, ảnh hưởng đến 1% đến 2% phụ nữ mang thai.

Khi người phụ nữ mang thai bị bệnh tuyến giáp sẽ có nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến người mẹ và thai nhi. Ở nước ta nguy cơ bị mắc bệnh tuyến giáp cao nhất là miền núi vì khu vực này nằm trong vùng thiếu iốt. Vì thế phát hiện và xử lý kịp thời bệnh tuyến giáp khi có thai sẽ giảm được các biến chứng nguy hiểm.

Việc điều trị bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ có thai còn phức tạp, cần có sự tham gia của thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và chuyên khoa sản.

thaigiap

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 07 Tháng 1 2021 10:18

Mười loại vi khuẩn kháng kháng sinh nguy hiểm nhất

  • PDF.

Khoa Vi Sinh - 

Hình thể của vi khuẩn

Vấn đề toàn cầu về kháng kháng sinh đang nhanh chóng trở thành một trong những vấn đề khoa học lớn của thời hiện đại. Việc phát triển các loại thuốc kháng sinh mới còn chậm chạp và khó khăn nhưng khả năng kháng thuốc của vi khuẩn nhanh chóng làm giảm số lượng các loại kháng sinh điều trị hiện có của chúng ta, tạo ra mối đe dọa thảm khốc vì các bệnh nhiễm trùng thông thường không thể điều trị được. Hành động phòng ngừa là cần thiết để giúp giảm sức đề kháng.. Các vi khuẩn được liệt kê dưới đây bao gồm một loạt các bệnh và mức độ kháng thuốc. Tất cả chúng đều là mối đe dọa đối với con người theo cách này hay cách khác. Một số, như bệnh lao chẳng hạn, đã là một thách thức lớn cần phải vượt qua và sẽ chỉ trở nên khó kiểm soát hơn khi tình trạng kháng thuốc kháng sinh của họ ngày càng tăng.

vkdk1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 31 Tháng 12 2020 16:58

Hội chứng cai rượu.

  • PDF.

Bs Huỳnh Minh Nhật - 

I. GIỚI THIỆU

Rượu là chất gây suy nhược hệ thần kinh trung ương. Rượu tăng tác dụng ức chế của axit gamma-aminobutyric (GABA) đồng thời ức chế tác dụng kích thích của Glutamate. Ở bệnh nhân nghiện rượu, chỉ sự hiện diện liên tục của rượu trong máu mới duy trì được cân bằng nội môi. Việc ngừng tiếp xúc với rượu đột ngột dẫn đến tình trạng hưng phấn của não vì các thụ thể trước đây bị rượu ức chế không còn bị ức chế nữa. Sự hưng phấn của não biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng nhẹ như mất ngủ, lo lắng và run rẩy đến các biến chứng nặng như co giật do cai rượu và mê sảng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Các triệu chứng cai rượu thường bắt đầu trong vòng 6 đến 24 giờ kể từ lần uống cuối cùng hoặc giảm đột ngột việc uống rượu. Các triệu chứng có thể xuất hiện ngay cả khi vẫn còn nồng độ cồn trong máu. Hội chứng cai rượu xảy ra phổ biến ở các bệnh nhân đang điều trị tại khoa nội, phẫu thuật và cấp cứu.

ruou1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 28 Tháng 12 2020 15:41

Vai trò của men chuyển angiotensine 2 (ACE2) trong COVID-19

  • PDF.

Bs Lê Văn Tuấn - 

Vào cuối năm 2019, một đợt bùng phát loại coronavirus mới (2019-nCoV) đã được báo cáo ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Sự bùng phát đã trở thành một đại dịch toàn cầu. Virus này dường như dễ lây lan hơn nhiều so với coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính (SARS) (SARS-CoV) và coronavirus hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) (MERS-CoV). 

Giải trình tự bộ gen có độ dài đầy đủ cho thấy 2019-nCoV chia sẻ 79,5% nhận dạng trình tự với SARS-CoV và phân tích trình tự protein theo cặp cho thấy nó thuộc nhóm coronavirus liên quan đến SARS. Cả 2019-nCoV và SARS-CoV xâm nhập vào tế bào chủ thông qua cùng một thụ thể, enzym chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2). Do đó, virus này sau đó được đổi tên thành SARS-CoV-2. Mặc dù tỷ lệ tử vong chung của COVID-19 do SARS-CoV-2 gây ra thấp hơn so với SARS và MERS, rối loạn chức năng cơ quan, chẳng hạn như hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), tổn thương tim cấp tính, tổn thương gan cấp tính và tổn thương thận cấp tính khá phổ biến trong các trường hợp nghiêm trọng. ACE2, một chất tương đồng của enzym chuyển đổi angiotensin (ACE), được biểu hiện trong nhiều cơ quan và mô của con người, có các hoạt động sinh học rộng rãi và có thể chống lại vai trò tiêu cực của hệ thống renin-angiotensin (RAS) trong nhiều bệnh. Xét rằng protein đột biến của SARS-CoV-2 tương tác với ACE2, cũng như của SARS-CoV, COVID-19 có thể có cơ chế gây bệnh tương tự như của SARS. Bài tổng quan này sẽ thảo luận về vai trò của ACE2 trong COVID-19, và các mục tiêu điều trị tiềm năng của nó, nhằm cung cấp thêm thông tin về việc quản lý bệnh dịch.

menchuyen1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 16 Tháng 12 2020 21:39

Bằng chứng về: Khởi phát chuyển dạ khi thai đến ngày dự sinh

  • PDF.

Bs Ngô Thảo Vy -

Khởi phát chuyển dạ (KPCD) ở các trường hợp có nguyên nhân không liên quan đến y tế tăng cao ở Mỹ (Little, 2017). Ngày càng nhiều sản phụ được khởi phát chuyển dạ khi đến ngày dự sinh - ước tính là 40 tuần, hoặc thậm chí sớm hơn khi mới 39 tuần.

Lợi ích và rủi ro của việc khởi phát chuyển dạ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trước ngày dự sinh là gì? Có những rủi ro đáng lo ngại ở trường hợp thai quá ngày dự sinh không?

Khởi phát chuyển dạ được xem là một chỉ định y tế khi có các vấn đề y tế được chấp nhận hoặc thai kỳ xuất hiện biến chứng khiến bà mẹ và thai nhi không an toàn nếu tiếp tục thai kỳ. Mặt khác, các cuộc KPCD không có nguyên nhân liên quan đến y tế được gọi là KPCD chủ động.

khoiphatcd

Thách thức của việc chọn đúng nhóm so sánh để nghiên cứu KPCD chủ động

Trong nhiều năm, người ta thường tin rằng KPCD chủ động làm tăng gấp đôi tỷ lệ mổ lấy thai, đặc biệt là ở những bà mẹ sinh con lần đầu. Tuy nhiên, trong những năm 2010, một số nhà nghiên cứu bắt đầu tranh cãi về kết luận đó. Họ lập luận rằng trong các nghiên cứu trước đó, nhóm khởi phát chuyển dạ chủ động chỉ được so sánh với nhóm có chuyển dạ tự nhiên. Loại trừ hai nhóm này là những người không được KPCD lúc đầu, và chờ chuyển dạ nhưng sau đó lại được khởi phát chuyển dạ để chấm dứt thai kỳ, một số trong số đó có liên quan về mặt y tế (và do đó, có liên quan đến tỷ lệ sinh mổ cao hơn).

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 15 Tháng 12 2020 17:55

You are here Tin tức Tập san Y học