• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo nhân viên BV

Dị tật Kirner ngón tay

  • PDF.

Bs CKI Trần Phước Việt

I/ TỔNG QUAN

Dị tật Kirner (Kirner deformity - còn gọi là dystelephalangy) được mô tả lần đầu vào nằm 1927 bởi J. Kirner, là một bất thường xương hiếm gặp và tiến triển chậm. Dị tật này đặc trưng bởi tình trạng đốt ngón xa bị cong về phía lòng bàn tay (phía gan tay) và phía quay, thường xảy ra nhất ở ngón tay thứ năm (ngón út).

II/ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG:

Tuổi và giới tính: Thường biểu hiện hoặc dễ nhận thấy ở giai đoạn cuối tuổi ấu thơ đến đầu tuổi vị thành niên (từ 5 đến 14 tuổi). Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao hơn hẳn so với nam giới.

Tình trạng này hầu như luôn không gây đau và hiếm khi làm suy giảm đáng kể chức năng của bàn tay. Mối bận tâm lớn nhất của bệnh nhân là vấn đề thẩm mỹ.

Tính đối xứng: Dị tật này thường xuất hiện đối xứng ở cả hai bên tay.

Đặc điểm đi kèm: Móng tay thường có độ cong nhô cao hoặc có dạng giống như "mỏ chim" ở phía trên đầu ngón tay bị cong.

III/ CẬN LÂM SÀNG:

Trên phim X-quang quy ước, dị tật này biểu hiện qua các dấu hiệu rất đặc trưng:

  • Đĩa sụn tăng trưởng có hình chữ L hoặc hình dấu ngoặc kéo dài về phía lòng bàn tay.
  • Thân của đốt ngón xa bị gập góc rõ rệt về phía gan tay và phía quay.
  • Đĩa sụn tăng trưởng (physeal growth plate) bị rộng ra hoặc có hình dạng không đều.
  • Có một vùng thấu quang nhỏ (radiolucent nidus) bên trong vòm móng ngón tay, thường đi kèm với tình trạng xơ hóa thân xương.

kirner

Xem tiếp tại đây

 

Ung thư biểu mô tế bào gan (p.3)

  • PDF.

Bs CKII. Trần Quốc Chiến - Trung Tâm Ung Bướu

Phần 3. Điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến triển

MỘT SỐ CÁC KHUYẾN NGHỊ HIỆN NAY

Điều trị bước một

(1) Đối với những bệnh nhân có chức năng gan được bảo tồn tốt và điểm ECOG PS 0-1 (BCLC B-C):

+ Atezolizumab-bevacizumab [I, A; thang điểm ESMO-Magnitude of Clinical Benefit Scale (ESMO-MCBS) phiên bản 1.1: 5] hoặc durvalumab-tremelimumab [I, A; thang điểm ESMO-MCBS v1.1: 5] được khuyến nghị.

+ Ở những bệnh nhân có tăng áp lực tĩnh mạch cửa, việc tầm soát giãn tĩnh mạch thực quản được khuyến nghị mạnh mẽ trước khi bắt đầu điều trị bằng atezolizumab-bevacizumab [IV, A].

+ Camrelizumab-rivoceranib [I, B; chưa được EMA hoặc FDA phê duyệt] hoặc nivolumab-ipilimumab [I, B; đã được EMA phê duyệt, chưa được FDA phê duyệt] có thể được khuyến nghị.

+ Durvalumab [I, A; thang điểm ESMO-MCBS v1.1: 4; đã được EMA phê duyệt, chưa được FDA phê duyệt] hoặc tislelizumab [I, A; chưa được EMA hoặc FDA phê duyệt] nên được cân nhắc cho những bệnh nhân có chống chỉ định với các liệu pháp kết hợp ICI.

+ Lenvatinib [I, A; đã chứng minh không thua kém so với sorafenib qua thang điểm ESMO-MCBS v1.1] hoặc sorafenib [I, A; thang điểm ESMO-MCBS v1.1: 3] được khuyến nghị cho những bệnh nhân có chống chỉ định với liệu pháp ICI.

kgan12

Xem tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 17 Tháng 5 2026 16:45

Phòng ngừa và tầm soát ung thư đại trực tràng

  • PDF.

Bs CK1 Nguyễn Thị Hà - 

nguak

Xem tại đây

 

Hóa trị tân hỗ trợ ung thư vú có thụ thể Her-2 dương - Case lâm sàng

  • PDF.

Bs CK1 Nguyễn Thị Hà - 

kvu

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 11 Tháng 5 2026 20:47

Ung thư biểu mô tế bào gan (tt)

  • PDF.

BSCKII. Trần Quốc Chiến - Trung tâm Ung bướu

PHẦN 2. Điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn sớm [BCLC 0-A] và trung gian [BCLC B]

MỘT SỐ CÁC KHUYẾN NGHỊ HIỆN NAY

(1) Quản lý bởi nhóm đa chuyên khoa (MDT – Multidisciplinary Team) được khuyến nghị mạnh mẽ cho bệnh nhân HCC giai đoạn sớm và trung gian [II, A].

(2) Cắt gan được khuyến nghị cho bệnh nhân có một khối u đơn độc > 2 cm và không có bằng chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa (BCLC 0 đến A) [II, A].

(3) Cắt gan được khuyến nghị cho bệnh nhân có chức năng gan Child-Pugh A, không có tăng áp lực tĩnh mạch cửa đáng kể hoặc các chống chỉ định khác [III, A].

(4) Cắt gan có thể được cân nhắc ở những bệnh nhân được chọn lọc kỹ, có chức năng gan Child-Pugh B ổn định và/hoặc mức độ tăng áp lực tĩnh mạch cửa nhẹ với sự cân nhắc cẩn thận nguy cơ mất bù [III, B].

(5) Cắt gan được khuyến nghị như một lựa chọn ở bệnh nhân HCC giai đoạn trung gian (BCLC B) không phù hợp với các liệu pháp trong động mạch [II, A].

(6) Ở bệnh nhân xơ gan, phương pháp cắt gan xâm lấn tối thiểu được khuyến nghị [III, A].

(7) Đốt u bằng vi sống (MWA – Microwave Ablation) hoặc đốt u bằng sóng cao tần (RFA – Radiofrequency Ablation) được khuyến nghị trong HCC giai đoạn rất sớm (BCLC 0) [II, A].

(8) MWA hoặc RFA được khuyến nghị như một lựa chọn thay thế cho phẫu thuật cắt gan ở bệnh nhân HCC giai đoạn sớm (BCLC A) [II, A].

(9) Việc lựa chọn giữa cắt gan hay đốt u cần xem xét các giới hạn kỹ thuật và phải được thảo luận bởi MDT [III, A].

(10) MWA hoặc RFA có thể được khuyến nghị cho các khối u đơn độc có đường kính 3–5 cm hoặc bệnh đa ổ (≤ 3 khối u, mỗi khối ≤ 3 cm) (BCLC A) ở những bệnh nhân không phải là ứng viên cho phẫu thuật cắt gan hoặc như một phương án bắc cầu cho ghép gan toàn bộ đúng vị trí (OLT – Orthotopic Liver Transplantation) [II, B].

(11) Điều trị toàn thân bổ trợ bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs – Tyrosine Kinase Inhibitors) hoặc các phác đồ phối hợp dựa trên thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICI – Immune Checkpoint Inhibitors) sau phẫu thuật cắt gan hoặc đốt u không được khuyến nghị [I, E].

kgan2

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 06 Tháng 5 2026 20:36

You are here Tin tức Đào tạo nhân viên BV