• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Chương trình khám và phẫu thuật miễn phí “Thắp sáng Nụ cười Việt” 2026 từ 20/5/2026 đến 17/6/2026 tại Khoa Răng Hàm Mặt - BVĐKQN

Đào tạo nhân viên BV

Bình chứa thuốc mê bay hơi

  • PDF.

Bs. Phạm Văn Thịnh - 

Năm 1846, William T.G.Morton đã thực hiện buổi trình diễn công khai đầu tiên về gây mê bằng ether bằng một dụng cụ hít đơn giản nhưng rất khéo léo. Mặc dù thiết bị này có hiệu quả trong việc cung cấp hơi thuốc mê, nhưng máy hít ether của Morton không có cách nào điều chỉnh nồng độ đầu ra hoặc bù trừ sự thay đổi nhiệt độ do quá trình bay hơi của chất gây mê lỏng và môi trường xung quanh gây ra.

Hai vấn đề này đã trở thành nền tảng cho sự phát triên và tiến háo sau này của các máy hóa hơi gây mê hiện đại. Các máy hóa hơi hiện đại có khả năng bù nhiệt và duy trì chính xác nồng độ mong muốn trong một phạm vi rộng của lưu lượng đầu vào.

Năm 1993, với sự ra đời của desflurane trong lâm sàng, một loại máy hóa hơi tinh vi hơn nữa đã được phát triển để xử lý các đặc tính vật lý đặc biệt của thuốc này. Các hệ thống máy hóa hơi “cassette” kết hợp giữa công nghệ truyền thống và điều khiển bằng máy tính cũng đã xuất hiện. Ngoài ra một loại máy hóa hơi kiểu “tiêm” cũng được tái giới thiệu; thiết bị này đưa một lượng chính xác thuốc mê dạng lỏng vào dòng khí tươi.

binh me

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 05 Tháng 4 2026 07:25

Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu điều trị gãy xương gót qua đường mổ xoang cổ chân

  • PDF.

Bs. Nguyễn Trung Hiếu - 

I. GIẢI PHẪU XƯƠNG GÓT

Xương gót là xương lớn nhất của bàn chân, đóng vai trò quan trọng trong chịu lực và vận động.

Có 3 phần chính: thân, củ sau, mỏm trước.

Diện khớp quan trọng: diện sau khớp với xương sên (posterior facet).

Sustentaculum tali: điểm tựa vững chắc, ít di lệch trong gãy.

Liên quan giải phẫu:

  • Gân mác ngoài
  • Thần kinh sural
  • Khớp dưới sên

Hệ thống mạch máu nuôi tương đối nghèo → dễ biến chứng phần mềm.

xgot

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 03 Tháng 4 2026 13:34

Đứt gân cơ nhị đầu

  • PDF.

Bs CK2. Dương Nguyễn Lộc -

I. Đại cương

  • Đầu gần gân cơ nhị đầu gồm có đầu ngắn bám vào mỏm quạ và đầu dài bám vào sụn viền điểm 12h của ổ chảo xương bả vai.
  • Đầu xa gân cơ nhị đầu bám vào lồi củ xương quay.
  • Đứt gân cơ nhị đầu ở đầu gần đa phần các trường hợp là đứt đầu dài, chiếm khoảng 97% các trường hợp. Chỉ khoảng 3% là đứt đầu xa thường là nhổ chỗ bám vào lồi củ xương quay.
  • Đứt ngang qua thân cơ cũng đã được báo cáo nhưng ít gặp.
  • 95% bệnh nhân gặp phải ở nam giới và đa phần gặp ở tay thuận.

II. Nguyên nhân

  • Đứt gân nhị đầu đoạn xa thường do lực căng quá mức theo hướng lệch tâm khi cánh tay chuyển từ tư thế gấp sang duỗi.
  • Hay gặp sau các hoạt động nặng như cử tạ, đấu vật và các công việc lao động nặng.
  • Đứt gân nhị đầu đoạn gần thường có liên quan chặt chẽ đến bệnh lý chóp xoay.
  • Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, hút thuốc, béo phì, sử dụng corticosteroid và hoạt động quá mức.
  • Các nguyên nhân hiếm gặp bao gồm sử dụng kháng sinh nhóm quinolon, tiểu đường, lupus và bệnh thận mạn tính.

ganco

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 01 Tháng 4 2026 10:46

Điều trị ngoại khoa viêm tụy cấp, cập nhật khuyến cáo Hiệp hội Tụy thế giới 2025

  • PDF.

Bs. Trần Minh Kiên - 

ĐẠI CƯƠNG

Viêm tụy cấp là một thực thể bệnh lý cấp cứu tiêu hóa có tỷ lệ nhập viện cao và đang có xu hướng gia tăng 3% mỗi năm trên toàn cầu. Sự gia tăng này liên quan trực tiếp đến các yếu tố nguy cơ như lạm dụng rượu, béo phì, sỏi mật và sự già hóa dân số. Phổ bệnh lý biến thiên rộng từ thể phù nề nhẹ đến thể hoại tử nặng nề. Việc xử trí đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của mô hình đội ngũ đa chuyên khoa bao gồm Nội tiêu hóa, Ngoại khoa, Hồi sức cấp cứu (ICU) và Chẩn đoán hình ảnh.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán viêm tụy cấp đòi hỏi có 2 trong 3 yếu tố sau:

  • Đau bụng luôn cấp tính (cấp tính, nặng và thường lan sau lưng).
  • Lipase huyết tương (hay amylase) ít nhất tăng 3 lần hơn mức cao bình thường.
  • Hình ảnh đặc trưng trên chụp cắt lớp (CT) có cản quang, ít hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI) hay siêu âm.

Nếu có 2 yếu tố đau bụng và men tụy tăng thì không nhất thiết làm chẩn đoán hình ảnh lúc nhập viện. Tiếp cận dùng chẩn đoán hình ảnh như CT-scan bụng có thuốc cản quang ở bệnh nhân viêm tụy cấp nên được thực hiện nếu chẩn đoán chưa rõ ràng hay thất bại trong đáp ứng với điều trị bảo tồn hoặc tình trạng lâm sàng diễn tiến xấu đi. Thời điểm tối ưu để chụp CT có tiêm thuốc cản quang thông thường nhằm đánh giá mức độ nặng là ít nhất 72–96 giờ sau khi khởi phát triệu chứng.

Nên thực hiện chụp CT có tiêm thuốc cản quang theo dõi khi: Cân nhắc thực hiện các can thiệp xâm lấn đối với các biến chứng tại chỗ hay có sự diễn tiến xấu đi về mặt lâm sàng ở bệnh nhân viêm tụy cấp.

Ở bệnh nhân không có sỏi mật và/hoặc bệnh sử nghiện rượu, phải kiểm tra xét nghiệm triglycerid máu và coi đó là nguyên nhân nếu trên 1000 mg/dl.

Chẩn đoán viêm tụy hoại tử nhiễm trùng nên được thiết lập dựa trên sự phối hợp giữa các biểu hiện lâm sàng, kết quả xét nghiệm huyết thanh và hình ảnh học. Không khuyến cáo sử dụng thường quy kỹ thuật chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) để xác định tình trạng viêm tụy hoại tử nhiễm trùng.

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 31 Tháng 3 2026 10:07

U mô đệm đường tiêu hoá

  • PDF.

Bs Lương Thành Vi - 

I. ĐẠI CƯƠNG

Các khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) là khối u trung mô thường gặp nhất của đường tiêu hóa, chiếm 20% các khối u dạng sarcoma và 1-2% các ung thư đường tiêu hóa nguyên phát. Người ta cho rằng những khối u này phát sinh từ các tế bào kẽ Cajal (ICC), hay còn gọi là tế bào tạo nhịp của đường tiêu hóa. Mặc dù những khối u này có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trong đường ruột, nhưng chúng thường được tìm thấy nhất ở dạ dày (55%) và ruột non (30%). Một số ít khối u này được tìm thấy ở đại tràng, trực tràng và thực quản, cũng như thậm chí cả bên ngoài đường tiêu hóa (tức là ngoài ruột như tuỵ, mạc treo ruột…). GIST đặc trưng bởi các đột biến tăng chức năng gây ung thư trong gen KIT hoặc PDGFRA , cũng như các yếu tố thúc đẩy khác, bao gồm các biến đổi trong các tiểu đơn vị SDHx , NF1 , BRAF , FGFR1 và sự hợp nhất ETV6NTRK3 . Do việc xác định các biến đổi gen trong KIT vào cuối những năm 1990, GIST đã trở thành mô hình cho ung thư học chính xác và các liệu pháp đa phương thức. Do đó, xét nghiệm gen, liệu pháp tân bổ trợ và bổ trợ nhắm mục tiêu, cũng như phẫu thuật cắt bỏ đều là những thành phần quan trọng trong điều trị bệnh này.

Xem tiếp tại đây

 
You are here Tin tức Đào tạo nhân viên BV