• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Dinh dưỡng cá nhân hóa trong bệnh thận mạn tính

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hải - 

Một cách tiếp cận cá thể hóa đối với dinh dưỡng ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính (CKD) đại diện cho một sự thay đổi mô hình đầy hứa hẹn trong quản lý bệnh, vượt ra ngoài các khuyến nghị chế độ ăn uống truyền thống "một kích cỡ phù hợp với tất cả". Bệnh nhân CKD thường có các bệnh đi kèm khác và đối mặt với những thách thức dinh dưỡng đặc thù, bao gồm suy mòn protein-năng lượng (PEW), thiểu cơ, và suy giảm bài tiết chất dinh dưỡng qua thận, điều này làm phức tạp việc lập kế hoạch ăn uống. Các hướng dẫn hiện tại chủ yếu tập trung vào việc hạn chế chất dinh dưỡng - chẳng hạn như hạn chế protein, natri, kali và phốt pho. Tuy nhiên, những khuyến nghị chung chung này thường dẫn đến kết quả và sự tuân thủ dưới mức tối ưu. Dinh dưỡng cá thể hóa, điều chỉnh các khuyến nghị về chế độ ăn uống phù hợp với các đặc điểm cá nhân, như kiểu gen, kiểu hình và sở thích văn hóa xã hội, đã đạt được sự chú ý trong nhiều bệnh mạn tính khác nhau.

Tổng quan:

Tỷ lệ mắc và hiện mắc bệnh thận mạn tính (CKD) trên toàn cầu đang gia tăng song song với tỷ lệ béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa ngày càng tăng. Tất cả các tình trạng này đều có nhiều yếu tố nguy cơ chung liên quan đến chế độ ăn uống và lối sống, chẳng hạn như lượng calo dư thừa, tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến, hoạt động thể chất không đầy đủ và hút thuốc. Người ta ước tính rằng khoảng 11 triệu ca tử vong trên toàn cầu và khoảng một nửa số ca tử vong do bệnh tim mạch chuyển hóa ở Hoa Kỳ có thể là do chế độ ăn uống kém. Với nhận thức ngày càng tăng về vai trò trung tâm của chế độ ăn uống trong sự phát triển của các bệnh mạn tính này, ngày càng có nhiều sự tập trung vào "thực phẩm là thuốc". Khái niệm dinh dưỡng cá thể hóa, điều chỉnh các khuyến nghị về chế độ ăn uống phù hợp với các đặc điểm cá nhân, bao gồm kiểu gen, kiểu hình và các yếu tố văn hóa xã hội, thừa nhận rằng phản ứng của mỗi cá nhân đối với dinh dưỡng có thể khác nhau đáng kể.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 25 Tháng 2 2026 20:50

Gãy xương hở

  • PDF.

Bs Võ Phước Đức - 

I.ĐẠI CƯƠNG:

1.1.Định nghĩa: Gãy xương hở là gãy xương mà ổ gãy thông với môi trường bên ngoài do mô mềm và da bên trên bị tổn thương

1.2. Dịch tễ:

- Gãy xương hở chiếm 3 % trong tất cả các gãy xương chi thể

- Trong tất cả gãy xương hở thì tần suất gãy hở xương chày là thường gặp nhất

GXH

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 23 Tháng 2 2026 15:22

Dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư

  • PDF.

BSCK2. TRẦN QUỐC CHIẾN - TT UNG BƯỚU

1. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư là một bệnh lý mạn tính, không chỉ ảnh hưởng đến cơ quan bị bệnh mà còn có khả năng di căn, gây ra nhiều biến chứng và tác động tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh. Mối liên hệ giữa ung thư và dinh dưỡng là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ: ung thư làm suy giảm tình trạng dinh dưỡng, đồng thời, tình trạng dinh dưỡng kém lại ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị, cách thức điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đáng chú ý, có đến 20% bệnh nhân ung thư tử vong do hậu quả của suy dinh dưỡng hơn là do chính khối u [3].

Can thiệp dinh dưỡng sớm giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng, duy trì cân nặng và khối nạc cơ thể, tăng cường đáp ứng với điều trị và nâng cao chất lượng sống. Hướng dẫn thực hành của ESPEN (2021) nhấn mạnh: "Các vấn đề dinh dưỡng cần được xem xét ngay từ thời điểm chẩn đoán ung thư và cần được tiến hành song song với các phương pháp điều trị chống ung thư" [2]. Do đó, dinh dưỡng đóng vai trò then chốt trong chăm sóc và điều trị ung thư từ khi chẩn đoán cho đến suốt cuộc đời.

2. SUY DINH DƯỠNG VÀ SUY MÒN TRONG UNG THƯ

2.1. Sinh lý bệnh và định nghĩa

Khi xuất hiện tế bào ung thư, cơ thể phản ứng bằng cách tăng sản xuất các yếu tố dị hóa, dẫn đến phân hủy khối cơ và mỡ, đồng thời gây mất cảm giác thèm ăn và rối loạn chuyển hóa. Khối u còn làm tăng tiêu hao năng lượng ngay cả khi nghỉ ngơi. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến suy mòn trong ung thư.

Suy dinh dưỡng được định nghĩa là tình trạng mất cân bằng năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác, gây ảnh hưởng đến mô và cơ thể. Trong ung thư, suy dinh dưỡng có thể do bệnh lý hoặc do tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

Suy mòn ung thư là hội chứng mất khối cơ xương liên tục, không thể phục hồi hoàn toàn bằng hỗ trợ dinh dưỡng thông thường, diễn tiến đến suy chức năng. Tỷ lệ suy mòn dao động từ 8% đến 84% tùy loại ung thư, cao nhất ở ung thư đường tiêu hóa (80%) và ung thư đầu cổ (70%) [3].

ddK

Xem tiếp tại đây

 

Điện di protein huyết thanh

  • PDF.

CN. Nguyễn Thị Khánh Trình - 

Điện di protein huyết thanh là gì?

Điện di protein huyết thanh (SPEP) là một phương pháp đơn giản và ít tốn kém để tách các protein dựa trên điện tích tổng, kích thước và hình dạng của chúng. Hai loại protein chính có trong huyết thanh là albumin và các globulin. Albumin là thành phần protein chủ yếu của huyết thanh và tạo nên đỉnh lớn nhất nằm gần điện cực dương. Globulin chiếm một phần nhỏ hơn nhiều trong tổng lượng protein huyết thanh nhưng lại là trọng tâm chính trong việc diễn giải kết quả điện di protein huyết thanh. Có năm nhóm globulin: alpha-1, alpha-2, beta-1, beta-2 và gamma, trong đó phân đoạn gamma nằm gần điện cực âm nhất.

diendi

Xem tiếp tại đây

 

Rút ống nội khí quản

  • PDF.

BS CK2 Lê Tấn Tịnh - 

Rút ống nội khí quản ít thu hút sự quan tâm hơn so với đặt ống nội khí quản

Nghiên cứu, hướng dẫn và các chỉ định lâm sàng thường tập trung vào việc quản lý đường thở khi bắt đầu gây mê, và hiếm khi các thách thức của việc rút ống nội khí quản nhận được sự chú ý tương tự. Mặc dù sự chú trọng vào việc đặt ống nội khí quản, nhưng việc rút ống nội khí quản và sự hồi phục sau gây mê toàn thân không phải không có rủi ro. Dự án Kiểm toán Quốc gia lần thứ 4 của Hội đồng Gây mê Hoàng gia và Hiệp hội Đường thở Khó (DAS) (NAP4) đã phát hiện rằng gần một phần ba các biến chứng đường thở lớn xảy ra trong quá trình hồi phục và khi thức dậy từ gây mê. Hai trường hợp dẫn đến tử vong và một trường hợp bị tổn thương não nghiêm trọng, cùng với 10 ca phải can thiệp đường thở phẫu thuật khẩn cấp. Bệnh nhân phẫu thuật vùng miệng hoặc đầu và cổ chiếm gần 50% các trường hợp này, và béo phì là một tình trạng bệnh lý đi kèm phổ biến. Một khảo sát triển khai bởi Asai và các cộng sự cho thấy các biến chứng hô hấp sau khi rút ống nội khí quản và trong đơn vị chăm sóc hậu phẫu (PACU) phổ biến hơn nhiều so với các biến chứng xảy ra khi đặt ống nội khí quản. Dữ liệu từ cơ sở dữ liệu yêu cầu bảo hiểm của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ (ASA) cho thấy 18% yêu cầu bảo hiểm cho trường hợp tử vong hoặc tổn thương não do quản lý đường thở khó đã xảy ra trong hoặc sau khi rút ống nội khí quản. Mặc dù các biến chứng khi hồi phục và trong PACU có thể có vẻ nhỏ và tạm thời, nhưng dự án NAP4 cho thấy chúng có thể dẫn đến chấn thương lâu dài và tử vong.

RUTNKQ

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 06 Tháng 2 2026 16:04

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV