Bs Trần Phước Việt -
Đào tạo NCKH
Gãy Galeazzi
- Thứ bảy, 06 Tháng 7 2024 11:14
- Biên tập viên
- Số truy cập: 1062
Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 06 Tháng 7 2024 17:30
Liệu pháp tân bổ trợ điều trị ung thư vú giai đoạn sớm
- Thứ bảy, 06 Tháng 7 2024 11:07
- Biên tập viên
- Số truy cập: 1268
Bs Phạm Tấn Trà -
Ung thư vú loại ung thư gặp phổ biến ở nữ giới, với hơn 2,2 triệu ca mắc mới ( 23.8% ở nữ) và hơn 600 nghìn người mất mỗi năm (đứng thứ 4) [1]. - Và ở Việt Nam, ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong thứ 4 do ung thư (sau gan, phổi, dạ dày) và đứng hàng đầu về tỷ lệ mắc mới (hơn 24 nghìn ca mới) [1].
Do tỉ lệ mắc mới cao và tiên lượng tốt ( tỉ lệ sống 5 năm khoảng 91% [2]) nên tỉ lệ lưu hành bệnh cao trong cộng đồng. Có 72 617 phụ nữ mắc ung thư vú ở Việt Nam ở năm 2022 [1].
90-95% ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và chỉ 5-10% chẩn đoán ở giai đoạn di căn. Có khoảng 20-30 % ung thư vú giai đoạn sớm phát triển di căn [3].
Phối hợp đa chuyên khoa (multidisciplinary teams) (phẫu thuật, xạ trị, liệu pháp toàn thân, chăm sóc giảm nhẹ) giúp nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân và kết cục tốt hơn [4].
Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 06 Tháng 7 2024 17:29
Sốt chuột cắn: Streptobacillus Moniliformis và Spirillum Minus
- Thứ sáu, 05 Tháng 7 2024 11:00
- Biên tập viên
- Số truy cập: 1588
Bs Nguyễn Thị Thuỳ Nương -
Sốt chuột cắn là một bệnh toàn thân hiếm gặp thường lây truyền qua vết cắn của chuột hoặc các loài gặm nhấm nhỏ khác. Bệnh lý nhiễm trùng này phân bố trên phạm vi toàn cầu, có thể gây ra bởi Streptobacillus moniliformis hoặc Spirillum minus, các vi khuẩn này thường cư trú ở vùng hầu họng của các loài gặm nhấm. Bệnh do Streptobacillus chiếm phần lớn số ca sốt do chuột cắn ở Hoa Kỳ, trong khi nhiễm trùng do S. minus xảy ra chủ yếu ở châu Á.
Bệnh do chuột cắn đã được biết đến ở Ấn Độ từ hơn 2000 năm trước và hội chứng sốt chuột cắn đặc trưng được ghi nhận ở Hoa Kỳ vào đầu năm 1839. Đầu thế kỷ 20, các trực khuẩn gram âm gây bệnh, ban đầu được đặt tên là Streptothrix muris ratti. Năm 1925, vi khuẩn được phân lập từ mẫu cấy máu của một nhân viên phòng thí nghiệm bị sốt, phát ban và viêm khớp được đặt tên là S. moniliformis, dựa trên sự giống nhau về hình thái của nó với một chiếc vòng cổ đính cườm. Năm 1926, một vi sinh vật tương tự, Haverhillia multiformis, được nuôi cấy từ máu của những bệnh nhân trong một trận dịch bệnh giống như bệnh sốt chuột cắn ở Haverhill, Massachusetts. Cả H. multiformis và S. muris ratti sau đó đều được chứng minh là giống hệt với S. Moniliformis - tác nhân gây bệnh sốt chuột cắn do cầu trực khuẩn.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 06 Tháng 7 2024 17:29
Thai bám sẹo mổ lấy thai – Cập nhật chẩn đoán và quản lý bước đầu
- Thứ tư, 03 Tháng 7 2024 14:39
- Biên tập viên
- Số truy cập: 1427
Bs Đinh Thị Thu Trang -
Thai bám sẹo mổ lấy thai (CSP- Cesarean Scar Pregnancy) là một biến chứng trong đó thai kỳ làm tổ vào sẹo mổ từ lần sinh trước. Tỷ lệ mắc CSP có xu hướng tăng lên cùng với tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng cao. Tình trạng này có liên quan đáng kể đến các biến chứng thai kỳ nặng và gia tăng tỷ lệ tử vong mẹ như băng huyết, nhau cài răng lược, vỡ tử cung ….., nên đặt ra những thách thức trong việc chẩn đoán sớm và có kế hoạch quản lý phù hợp.
Siêu âm là công cụ chính để chẩn đoán CSP, mặc dù việc xác định chính xác và kịp thời còn nhiều khó khăn.
Tuổi thai tối ưu để khảo sát, đánh giá thai bám sẹo mổ lấy thai là 6 – 7 tuần. Tuy nhiên khuyến nghị thời điểm áp dụng có thể trong 3 tháng đầu (đến 12 tuần). Đánh giá CSP được khuyến nghị cho tất cả phụ nữ đã từng mổ lấy thai trước đó.
Nguồn hình: Báo cáo chuyên đề Thai bám sẹo mổ lấy thai- Chỉ đạo tuyến BV Từ Dũ
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 03 Tháng 7 2024 14:51
Bất thường mỏm nha
- Thứ ba, 02 Tháng 7 2024 09:59
- Biên tập viên
- Số truy cập: 2391
Bs Nguyễn Ngọc Tân -
I/ Giải phẫu:
Mỏm nha có hình cột trụ, hướng thẳng lên trên, cao khoảng 15 mm, được cố định bởi ổ khớp của mỏm nha với phía trước là cung trước đốt đội và phía sau là dây chằng ngang. Thân của mỏm nha được phát triển từ lớp trung mô phôi của đoạn tủy thần kinh cổ 1 và nằm ở trung tâm của đốt sống C1. Trên cùng mỏm nha gọi là đỉnh nha, mặt trước của đỉnh nha có diện khớp tiếp khớp với hõm khớp của mặt sau cung trước đốt đội và mặt sau đỉnh nha có diện khớp tiếp khớp với dây chằng ngang. Mỏm nha cấu tạo gồm ba phần, ngoài đỉnh nha, còn có thân mỏm nha, và nền mỏm nha, là nơi liên tiếp với thân đốt trục. Mỏm nha không nằm thẳng đứng mà nằm chếch ra phía sau, tạo với mặt phẳng đứng dọc góc chếch trung bình 13 độ. Mỏm nha được coi như là phần thân đốt đội dính vào đốt trục, có tác dụng như một trục để xương sọ và đốt đội quay quanh.
Trong quá trình phát triển tách ra khỏi đốt đội và gắn với phần còn lại của đốt trục. Mũi của mỏm nha được phát triển từ trung mô phôi của phần cuối tủy thần kinh vùng chẩm hoặc tiền đốt đội. Quá trình vôi hóa của 2 thành phần này của mỏm nha diễn ra riêng biệt. Từ tháng 1 đến tháng 5 trong bào thai, mỏm nha bắt đầu vôi hóa từ 2 điểm nằm đối xứng qua đường giữa. Đến thời điểm sinh, mỏm nha đã liền thành 1 khối. Đôi khi, hai phần trái và phải của mỏm nha không liền lúc sinh, khi đó đường giữa không liền. Vào thời điểm trẻ sinh ra, đỉnh mỏm nha chưa vôi hóa và có dạng chữ V hay còn gọi mỏm nha hình hai sừng. Quá trình vôi hóa của vùng trung tâm diễn ra riêng biệt và có thể thấy khi trẻ 3 tuổi và liền với toàn bộ mỏm nha khi trẻ đạt 12 tuổi. Cattell và Filtzer thấy vùng cốt hóa trung tâm trên 26% trên 70 trường hợp trẻ em 5-11 tuổi .








