• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Mối liên hệ giữa đái tháo đường và bệnh nha chu

  • PDF.

Bs Phan Văn Long - 

1. BỆNH NHA CHU LÀ GÌ?

Bệnh nha chu là tình trạng các mô nâng đỡ răng (nướu, xương ổ, dây chằng nha chu) bị nhiễm trùng và có thể ảnh hưởng đến cấu trúc nâng đỡ răng .Trong trường hợp nghiêm trọng, nó có thể khiến răng bị lung lay và rụng. Bệnh nha chu bắt đầu với vi khuẩn trên răng xâm nhập vào nướu. Vi khuẩn tích tụ trong mảng bám phát triển và hình thành vôi răng. Sự tích tụ này dẫn đến viêm nhiễm ở nướu được gọi là viêm nướu. Khi bệnh nha chu trở nên tồi tệ hơn, nướu có thể kéo ra khỏi bề mặt răng và tạo thành những khoảng trống bị nhiễm trùng. Được gọi là túi nha chu. Tình trạng này được gọi là viêm nha chu. Xương và mô neo giữ răng có thể bị phá hủy. Răng có thể bị lung lay và cần phải nhổ bỏ.

nhacuu

2.NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH NHA CHU

Bệnh nha chu do vi khuẩn tồn tại trong mảng bám răng. Mảng bám răng là hỗn hợp của vi khuẩn, dịch nhầy và các hạt khác, hình thành và tích tụ trên và xung quanh răng. Nếu không được điều trị, mảng bám tiến triển theo thời gian thành bệnh nha chu theo các giai đoạn sau:

-Tinh bột và đường từ thức ăn kết hợp với vi khuẩn trong miệng tạo thành mảng bám xuất hiện trên bề mặt răng

-Mảng bám không được loại bỏ sẽ cứng lại và tạo thành “cao răng”. Không thể loại bỏ cao răng bằng cách đánh răng thông thường mà cần thực hiện cạo vôi răng. Mảng bám và cao răng tồn tại trên răng lâu ngày sẽ gây viêm nướu và các tổn thương khác trên răng.

-Khi nướu xung quanh chân răng bị viêm rất dễ gây kích ứng và sưng.

-Nướu bị kích ứng và sưng liên tục sẽ dẫn đến bệnh nha chu. Trong trường hợp này, nướu tụt ra khỏi răng, tạo thành những túi nhỏ dễ bị nhiễm trùng. Những túi này chứa đầy mảng bám, cao răng, vi khuẩn và ngày càng sâu hơn theo thời gian. Nếu không được điều trị xương, nướu và mô nâng đỡ răng sẽ bị phá hủy dẫn đến răng lung lay phải nhổ bỏ.

3. SỰ BIẾN ĐỔI VÀ BIỂU HIỆN CỦA MÔ NHA CHU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG.

3.1. Sự biến đổi mạch máu

Sự biến đổi mạch máu do các thành mạch tiếp xúc lâu ngày với máu chứa lượng đường cao, như vậy sẽ dẫn tới việc giảm bớt đường kính mạch máu. Sự rồi loạn này làm cân trở sự phân tán oxygen và các yếu tố miễn dịch đến mô (Zachariasen, 1991). Điều này có thể giải thích sự xuất hiện bệnh nha chu ở những người đái tháo đường.

3.2. Biến dưỡng collagen

Sự phá hủy biến dưỡng collagen góp phần tạo ra tiền triển bệnh nha chu. Sự gia tăng việc phân hủy collagen ở nướu của những người bị đái tháo đường có thể giải thích hiện tượng phá hủy nha chu nhanh chóng trên một số bệnh nhân này. Sự phá hủy biến dưỡng collagen làm chậm lại tiên trình lành thương. Đái tháo đường dẫn tới giảm sản xuất các thành phần của khung xương nhờ các nguyên bào tạo cốt, làm giảm sự tổng hợp collagen nhờ các nguyên bào sợi của mô nướu và dây chẳng nha chu, làm tăng sự phân hủy collagen ở mô nướu (Golub và cs, 1978; Sasaki và cs, 1990).

3.3. Sự phá hủy đáp ứng của cơ thể

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự giảm thiểu chức năng của các tế bào bạch câu đa nhân trung tính ở những người đái tháo đường. Hiện tượng hóa ứng động, sự dán dính và chức năng thực bào cũng bị suy giảm (Bagdade và cs, 1978; Kjersem và cs, 1988; Cutler và cs, 1991). Nhiều bệnh nhân bị đái tháo đường không có hiện tượng loạn năng các tế bào bạch cầu (Bridges và cs, 1986) và cả những vấn đề về nha chu. Chỉ những bệnh nhân nào có hiện tượng hóa ứng động bị phá hủy mới bị viêm nha chu nặng khác thường (Ainamo và cs, 1990). Sự hiện diện một phenotyp bất thường mới giải thích được phần nào tầm quan trọng của việc phá hủy mô nha chu trên bệnh nhân bị đái tháo đường. Phenotyp này cũng hiện diện ở những người bị viêm nha chu sớm hay viêm nha chu kháng (Page và cs, 1997; Salvi và cs, 1997). Có giá thuyết cho rằng sự tích tụ protein và lipid oxy hóa sau đợt tăng đường máu sẽ kết hợp với các thụ thể của tế bào đơn nhân và tế bào nội mô thành mạch máu của bệnh nhân đái tháo đường (Lala và cs, 1998, Genco, 1996; Ishimura và cs, 1998). Sự kết hợp những sản phẩm biến dưỡng độc hại (Advanced glycation endproducts, AGE) với các thụ thể (Receptors for advanced glycation endproducts, RAGE) sẽ kích thích các tế bào đơn nhân và tế bào nội mô sản xuất một lượng lớn cytokin như: 1I-1B, II-6, TNF alpha (Schmidt và es, 1991 và 1994; Vlassara và cs, 1988). Như vậy, những cytokin này hiện điện trong dịch nướu ở người đái tháo đường nhiều gắp bốn lần so với người không bị đái tháo đường, những chất này có tiềm năng hoạt hóa các hủy cót bào và collagenase gây phá hủy mô nha chu trên bệnh nhân đái tháo đường. Ngoài ra, cơ chế kết hợp AGE/RAGE cũng làm tăng phóng thích các gốc tự do từ tế bào đơn nhân có khả năng gây độc hại lên mô nha chu (Chapple, 1997).

3.4 Những biểu hiện vùng miệng

Những biểu hiện ở vùng miệng Những dấu chứng thường gặp nhất là khô miệng, nóng rát lưỡi và đau nướu. Trong một nghiên cứu thực hiện ở 64 bệnh nhân bị nhiễm nấm Candida ở vùng miệng có màng giá thì Vecta và cộng sự (1993) đã phát hiện 8 bệnh nhân bị đái tháo đường chưa được chẩn đoán. Mặt khác, trong số 31 bệnh nhân bị nhiễm nấm không có triệu chứng, thì không có ai bị đái tháo đường. Các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của xét nghiệm đường máu với những người bị nấm có xuất hiện triệu chứng để phát hiện những người bị đái tháo đường. Trong số 8 người bị đái tháo đường thì 7 người có triệu chứng giảm tiết nước bọt. Nước bọt có chứa IgAs và thành phần xuất tiết tự do, những chất này ngăn chặn sự kết dính nấm Candida vào các tế bào biểu mô. Sự giảm lượng nước bọt tạo thuận lợi cho sự phát triển nấm. Hơn nữa khả năng tiêu diệt nấm nhờ các tế bào bạch cầu bị giảm đi do lượng đường trong nước bọt gia tăng (Hostetter, 1990). Sự dị cảm vùng miệng, đau lưỡi và giảm bớt vị giác đã được mô tả trên nhưng người bị đái tháo đường (Rose và cs, 1995). Những dấu chứng này có liên quan đền bệnh thần kinh, một trong những biến chứng lớn của đái tháo đường. Những biểu hiện niêm mạc như chốc mép và áp-tơ thường thấy ở những người đái tháo đường (Gautier và cs, 1989).

3.5. Những biểu hiện ở mô nha chu

Đa số các nghiên cứu thừa nhận là có sự kết hợp giữa bệnh đái tháo đường và viêm nha chu. Kết quả của các nghiên cứu khác nhau, do tính đa dạng của những tiêu chuẩn đánh giá về đái tháo đường và viêm nha chu. Khi những thông số giống nhau (thời gian bị đái tháo đường, tuổi, kiểm soát biến dưỡng ...) thì không có sự khác nhau về viêm nha chu giữa người bị đái tháo đường type I và type II (Basic và cs, 1988). Một trong những nghiên cứu lớn của Emrich và cs, 1991 về dịch tễ học cho thây sự liên quan giữa đái tháo đường type II và viêm nha chu đã chứng minh rằng bệnh nhân đải tháo đường có nguy cơ phát triển viêm nha chu cao hơn gấp ba lần so với người không có bệnh đái tháo đường. Theo Cianciola và cs, 1982, ở người trẻ tuổi bị đái tháo đường type I có 10% bệnh nhân đái tháo đường bị viêm nha chu trong khi đó đối với nhóm chứng không đái tháo đường thì chỉ có 2% bị viêm nha chu. Theo Hội thảo Thế giới về Phân loại Bệnh, Tình trạng Nha chu và Quanh Implant năm 2017 tại Chicago, đái tháo đường không kiểm soát làm thay đổi tiến trình của bệnh viêm nha chu với những tác động khác nhau. Chúng đóng vai trò là một phần trong bản chất đa yếu tố của các bệnh phức tạp như viêm nha chu và được đưa vào phân loại lâm sàng mới của viêm nha chu như một tiêu chuẩn đánh giá trong quá trình phân loại giai đoạn và cấp độ bệnh.

- Mảng bám: những người đái tháo đường mà không kiểm soát biến dưỡng tốt có mảng bám và cao răng nhiều hơn so với người đái tháo đường có kiểm soát tốt, bất kể type1 hay type II. Hơn nữa, bệnh nhân đái tháo đường ngay cả ở những người kiềm sát tốt, có chỉ số mảng bám và chỉ số nướu vẫn cao hơn người không bị đái tháo đường và tăng đường nước bọt ở những bệnh nhân đái tháo đường không kiểm soát tốt đã giải thích chỉ số mảng bám ở mức độ cao (Harrison và Bowen, 1987).

- Viêm nướu: nhiều nghiên cứu cho thấy viêm nướu ở bệnh nhân đái tháo đường rõ rệt hơn (Higoson và cs, 1989; Emrich và cs, 1991; Thorstensson và cs, 1995) mặc dù chi số mảng bám ở hai nhóm giống nhau (Sandholm và cs, 1989; De Pommerean và cs, 1992). Trong nhóm đái tháo đường, bệnh nhân kiểm soát biến dưỡng không tôt có viêm nhiễm nhiều hơn mặc dù khối lượng mảng bám như nhau của hai nhóm (Ervasti và cs, 1985; Seppak và cs, 1993).

-Mất bám dính: tỷ lệ toàn bộ và sự lan rộng của mất bảm dính như nhau đối với người đái tháo đường và không bị đái tháo đường (Oliver và Tervonen, 1993). Tuy nhiên, sự mất bám dính thường gặp hơn ở bệnh nhân đái tháo đường mà kiểm soát biển dưỡng trung bình và kém (27%) so với người có kiểm soát tốt (10%). Điều này đã được xác định nhờ những nghiên cứu khác (Safkan - Seppala và Ainamo, 1992; Seppala và 1993). Trong một nghiên cứu gần đây trên 1.426 người, Grossi và cs, 1994 nhận thấy rằng đái tháo đường là bệnh toàn thân duy nhất có phối hợp với mất bám dính.

-Độ sâu túi nha chu: tỷ lệ toàn bộ và độ lan rộng của túi nha chu của người bị đái tháo đường so với người không bị đái tháo đường thay đối tùy theo nghiên cứu. Trong nghiên cứu của Oliver và Tervonen, 1993, 41% bệnh nhân đái tháo đường có túi nha chu sâu hơn 4 mm và 16% đối với người không đái tháo đường. Theo các tác giả này, túi nha chu hình thành sớm hơn ở người đái tháo đường và trầm trọng hơn. Thortensson và Hugoson, 1993 nhận thấy có nhiều túi nha chu sâu hơn 6 mm ở người bị đái tháo đường.

- Sự tiêu xương: ngoài hiện tượng biến dưỡng collagen bị phá hủy, đái tháo đường có thể gây ra loãng xương (Zachariassen, 1991). Sự kiện này quan sát chủ yếu ở những bệnh nhân đái tháo đường lâu năm và/hay kiểm soát kém. Thành phần vô cơ của xương có tỷ lệ nghịch với đường máu, đường trong nước tiểu và nhu cầu insulin (Tervonen và Kruuttila, 1986), vai trò của insulin trong sự biến dưỡng xương vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng.

- Mất răng: trong một nghiên cứu so sánh 121 người đái tháo đường và không đái tháo đường, Tervonen và Oliver (1993) nhận thấy việc mất răng của hai nhóm giống nhau cho tới 65 tuổi. Tuy nhiên, trong nhóm đái tháo đường, những bệnh nhân kiểm soát tốt có 3 răng nhiều hơn so với bệnh nhân không kiềm soát tốt ở cùng tuổi. Loe, 1993 thấy rằng những người bị đái tháo đường mất 12 răng so với người không đái tháo đường, tần suất mất răng gia tăng với thời gian bị đái tháo đường, từ 7% đối với người đải tháo đường từ 5 năm, 14% đối với người đái tháo đường từ 10 năm và 75% đối với người bị đái tháo đường từ 20 năm. Những người đái tháo đường có nguy cơ bị mất răng toàn bộ gấp 15 lần so với người không đái tháo đường. Nguyên nhân là do những người đái tháo đường dễ bị bệnh nha chu hơn và sự chăm sóc răng lại kém hơn (Thorstenson và Hugoson, 1993; Karjalainen và cs, 1994).

4. MỐI QUAN HỆ GIỮA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ VIÊM NHA CHU

 Mối liên quan hai chiều giữa viêm nha chu và đái tháo đường, đã được xác định từ hơn 50 năm nay: đái tháo đường được công nhận là yếu tố nguy cơ của viêm nha chu, ngược lại viêm nha chu được xem là biến chứng thứ sáu của đái tháo đường [2]. Theo thống kê, những người bị tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh viêm nha chu cao gấp 3 lần so với những người không bị tiểu đường [3][4]. Vậy mối quan hệ giữa bệnh đái tháo đường và viêm nha chu là gì?

4.1 Bệnh nha chu làm trầm trọng thêm các biến chứng của bệnh đái tháo đường[5] :

– Ở người có bệnh nền đái tháo đường mà bị viêm nha chu, cơ thể sẽ giải phóng các hóa chất kích thích các phản ứng viêm trong cơ thể (cytokin) nhiều hơn người bình thường. Các chất này gây đề kháng với hormon insulin làm giảm hiệu quả của insulin, gây khó kiểm soát đường huyết và làm tăng nguy cơ mắc các biến chứng của bệnh đái tháo đường.

– Ngoài ra bệnh viêm nha chu được chứng minh có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như cao huyết áp, đột quỵ, xơ vữa động mạch…..được biết đến là các biến chứng phổ biến của bệnh đái tháo đường.

4.2. Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc và làm trầm trọng thêm tình trạng viêm nha chu

Những nguyên nhân làm tăng mức độ viêm nha chu ở người mắc bệnh đái tháo đường là:

– Bệnh đái tháo đường làm suy giảm chức năng của các bạch cầu ở người mắc bệnh vì vậy làm giảm khả năng chống lại vi khuẩn của cơ thể.

– Bệnh đái tháo đường làm tăng tiết các hoạt chất gây viêm, từ đó làm tăng tốc độ phá hủy mô xương ổ răng và mô nướu trong bệnh lý viêm nha chu.

– Bệnh đái tháo đường làm suy giảm khả năng làm lành vết thương của cơ thể.

Tóm lại: Bệnh viêm nha chu và đái tháo đường có mối quan hệ hai chiều với nhau. Do đó cần kiểm soát tốt tình trạng bệnh đái tháo đường để giảm nguy cơ mắc bệnh viêm nha chu. Bên cạnh đó việc chữa trị dứt điểm bệnh lý viêm nha chu để giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả hơn.

5. PHÒNG NGỪA BỆNH VIÊM NHA CHU Ở NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Nước ta có tỷ lệ bệnh nha chu rất cao nên khi có đái tháo đường, bệnh nha chu sẽ dễ trở nên nặng hơn và phá hủy nhanh hơn. Do đó, bệnh nhân đái tháo đường ngoài việc kiểm soát tốt đường huyết và các biến chứng khác còn cần theo dõi sức khỏe định kỳ và điều trị tốt khi có vấn đề bệnh răng miệng của chuyên khoa răng hàm mặt.

Các biện pháp phòng ngừa viêm nha chu ở người đái tháo đường

– Kiểm soát tốt đường huyết.

– Chế độ ăn uống hợp lý, tránh các loại đồ ngọt, nước có ga, ….

– Vệ sinh răng miệng đúng cách.

– Chải răng đúng cách để tránh gây tổn thương cho nướu. Chải răng đúng cách như sau:

+ Đặt bàn chải nghiêng một góc 45 độ với hàm, chải vòng tròn theo chiều dọc của răng, chải lần lượt theo từng nhóm gồm 2-3 chiếc răng, thực hiện liên tục đến khi đi hết bề ngoài của hàm.

+ Đưa bàn chải vào bề mặt bên trong của các răng, cách chải tương tự như mặt ngoài.

+ Đến vị trí các răng cửa phía trước, đặt bàn chải theo chiều dọc, ngửa đầu bàn chải và đưa vào mặt bên trong của hàm trên, thực hiện động tác lên – xuống để chải các răng cửa phía trên.

+ Thực hiện tương tự với các răng cửa phía dưới.

+ Đặt bề mặt lông bàn chải tiếp xúc với bề mặt nhai của các răng hai bên, chải từ trước ra sau.

+ Dùng lông bàn chải hoặc dụng cụ chải lưỡi để loại bỏ các mảng bám thức ăn trên bề mặt lưỡi.

+ Súc miệng lại bằng nước sạch 3 – 4 lần để đảm bảo làm trôi hết các vụn thức ăn, các mảng bám và kem đánh răng.

– Sử dụng nước súc miệng để giảm các mảng bám và giúp hơi thở thơm mát hơn.

– Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần.

– Không hút thuốc lá

Điều trị bệnh viêm nha chu ở người mắc bệnh đái tháo đường: Tùy theo tình trạng bệnh mà nha sĩ có thể thực hiện các biện pháp:

– Lấy cao răng(cạo vôi) để loại bỏ cao răng và vi khuẩn khỏi bề mặt răng và bên dưới nướu.

– Làm nhẵn bề mặt thân, chân răng, ngăn chặn tích tụ cao răng và vi khuẩn.

– Điều trị nhiễm khuẩn: Cần đến bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt để điều trị.

Tài Liệu Tham Khảo:

  1. Giáo trình Nha Chu Học tập 1 đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phạm Anh Vũ Thuỵ, Trần Huỳnh Trung (2018), “Liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và bệnh nha chu”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22 (2), 167-173.
  3. Mealey B.L., Ocampo G.L (2007), Diabetes mellitus and periodontal disease. Periodontology, 44: 127-153.
  4. Tsai C., Hayes C., Taylor G.W. (2002), Glycemic control of type 2 diabetes and severe periodontal disease in the US adult population. Community Dentistry and Oral Epidemiology, 30: 182-192.
  5.  Sanova L., Hughes F. & Preshaw P. (2015), Diabetes and periodontal disease. BDJ Team 1, 15007 (2015).

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 14 Tháng 9 2025 15:35

You are here Tin tức Y học thường thức Mối liên hệ giữa đái tháo đường và bệnh nha chu