• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Chẩn đoán và điều trị bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường (ADA 2022)

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hải - 

Bệnh thần kinh đái tháo đường (ĐTĐ) là biến chứng mãn tính phổ biến nhất của ĐTĐ, cả típ 1 và típ 2, đồng thời ảnh hưởng đến những người tiền đái đường và những người trẻ tuổi mắc ĐTĐ, với tỷ lệ mắc phải ước tính vượt quá 50% ở bệnh nhân mắc ĐTĐ. Trong số các dạng bệnh lý thần kinh khác nhau, bệnh thần kinh ngoại biên do ĐTĐ (diabetic peripheral neuropathy - DPN) là bệnh phổ biến nhất và có cơ sở bằng chứng tin cậy nhất liên quan đến các phương pháp điều trị.

Có một số khác biệt về mặt dịch tễ học giữa DPN ở bệnh ĐTĐ típ 1 và típ 2, mặc dù không có sự khác biệt lớn về cấu trúc trong bệnh lý thần kinh. Như đã được chứng minh bởi DCCT (Thử nghiệm kiểm soát và tuân thủ bệnh ĐTĐ), tỷ lệ hiện mắc bệnh DPN thấp ở những người mắc ĐTĐ típ 1 mới được chẩn đoán và sớm (thời gian <10 năm). Tỷ lệ hiện mắc sau đó tăng lên theo thời gian mắc bệnh lên đến 34% sau ~ 25 năm, như được ghi lại trong nghiên cứu EDIC (Dịch tễ học về các can thiệp và biến chứng của ĐTĐ). Tỷ lệ tương tự đã được báo cáo trước đó bởi EURODIAB IDDM (Nghiên cứu về các biến chứng phụ thuộc vào insulin ở Châu Âu) ở những người được chọn ngẫu nhiên mắc ĐTĐ típ 1 với thời gian tương tự từ 16 quốc gia Châu Âu. Hơn nữa, dữ liệu từ các nhóm thuần tập hiện đại phản ánh các tiêu chuẩn chăm sóc hiện tại ở cả hai bờ Đại Tây Dương cũng cho kết quả tương tự.

ngoaibien5

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 04 Tháng 4 2022 20:14

Các chiến lược chu phẫu để giảm các biến chứng phổi sau phẫu thuật

  • PDF.

Bs Võ Văn Phong - 

1. Giới thiệu

Biến chứng phổi sau phẫu thuật (PPCs) là một yếu tố đáng kể dẫn đến kết cục xấu của bệnh nhân. Tỷ lệ PPCs từ 2.0% đến 5.6% trong tổng số các phẫu thuật. Gần 25% trường hợp tử vong sau phẫu thuật xảy ra trong tuần đầu tiên có liên quan đến PPCs. Hậu quả của PPCs là nghiêm trọng,có thể tăng tỷ lệ mắc bệnh, tử vong của bệnh nhân, nguy cơ nhập viện trở lại và thời gian nằm viện lâu hơn. Với mức độ phổ biến của PPCs và sự gia tăng các phẫu thuật, nghiên cứu về PPC có liên quan về mặt y tế.

Định nghĩa về PPC khác nhau nhưng bao gồm co thắt phế quản, xẹp phổi, đợt cấp của các bệnh phổi mạn tính, nhiễm trùng (viêm phế quản và viêm phổi), thở máy kéo dài và suy hô hấp. Các định nghĩa mở rộng của PPCs cũng có thể bao gồm viêm phổi, xẹp phổi, co thắt phế quản, đợt cấp của COPD, tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi và các tắc nghẽn đường thở trên khác nhau.

chuphau

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 31 Tháng 3 2022 20:25

Hội chứng hậu COVID-19 cấp

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định - 

GIỚI THIỆU

Đại dịch coronavirus 2019 (COVID-19) đã ảnh hưởng đến hàng triệu bệnh nhân trên toàn thế giới trong những tháng gần đây. Các triệu chứng cấp tính của bệnh đã được báo cáo sớm nhất là vào mùa xuân năm 2020. Các bác sĩ lâm sàng nhanh chóng nhận ra rằng biểu hiện lâm sàng của bệnh rất khác nhau, từ các bệnh nhân không triệu chứng đến các bệnh nhân có triệu chứng nặng. Sự liên quan đến đa cơ quan là do hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng do SARS-CoV-2 đã được mô tả rõ ràng.

Bắt đầu từ đợt đại dịch đầu tiên trên toàn thế giới, tầm quan trọng của “cơn bão” cytokine, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, bao gồm phổi, tim và não, đã làm dấy lên nỗi sợ hãi về những di chứng lớn ở những bệnh nhân có triệu chứng nặng còn sống sót. Ngoài ra, theo thời gian, những người sống sót thường được quan sát thấy có các triệu chứng về thần kinh, hô hấp hoặc tim mạch, tạo thành cái được gọi là “hội chứng hậu COVID-19 cấp ” hoặc “COVID-19 kéo dài” có khả năng kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng.

Những triệu chứng này dường như thường xuyên và không chỉ ảnh hưởng đến những bệnh nhân COVID-19 có triệu chứng nghiêm trọng nhất.

Chủ đề này rất quan trọng vì những triệu chứng này thường gây ra ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh của họ cho thấy một số lượng đáng kể bệnh nhân sẽ bị ảnh hưởng.

Các triệu chứng của hội chứng hậu COVID-19 cấp là gì? Tác dụng của chúng là gì? Chúng ta biết gì về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ của chúng? Chúng có biến mất theo thời gian không? Những đánh giá nào nên được thực hiện ở những bệnh nhân này? Đánh giá tổng hợp này tìm cách trả lời những câu hỏi này.

haucovid

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 29 Tháng 3 2022 20:42

Xử trí suy tim cấp ở bệnh nhân cao tuổi

  • PDF.

Bs Trần Lâm - 

I. GIỚI THIỆU

Suy tim cấp (STC) là nguyên nhân nhập viện hàng đầu ở những người > 65 tuổi, có tỷ lệ tử vong và tái nhập viện cao, với tử vong nội viện là 4% - 10%, sau xuất viện 1 năm là 25–30%. STC có thể là biểu hiện đầu tiên (mới khởi phát), hoặc hay gặp hơn là do sự mất bù cấp của một suy tim mạn (STM). So với bệnh nhân STM mất bù cấp, những bệnh nhân STC mới khởi phát có tỷ lệ tử vong nội viện cao hơn nhưng tỷ lệ tử vong sau xuất viện và tái nhập viện lại thấp hơn.

Thông thường, bệnh nhân (BN) với các triệu chứng cấp sẽ gọi xe cấp cứu hoặc đến thẳng khoa cấp cứu của bệnh viện. Những BN với các triệu chứng kéo dài hơn vài tuần có xu hướng tham khảo ý kiến bác sĩ đa khoa hoặc bác sĩ tim mạch trước khi đến điều trị tạikhoa tim mạch hoặc đơn vị chăm sóc tích cực (ICU).

Ngoài suy tim, người cao tuổi thường có các bệnh kèm khác, như rối loạn nhận thức, trầm cảm, ăn uống kém, suy dưỡng, té ngã, mất tự chủ, bệnh của các cơ quan khác, ..., có thể làm chậm chẩn đoán suy tim, góp phần dẫn đến ST mất bù, gây nên những hậu quả chức năng và cuối cùng là thay đổi tiên lượng.

Bên cạnh các lợi ích của điều trị chuyên khoa tim mạch, các nhóm chăm sóc sức khỏe đa chuyên khoa cũng rất quan trọng trong xử trí BN suy tim cấp có các bệnh kèm. Do vậy, các hướng dẫn quốc tế đều khuyến cáo đánh giá và phối hợp đa chuyên khoa đối với bệnh nhân STC.

Mục đích của bài này nhằm cung cấp thông tin cập nhật cho bác sĩ lâm sàng đang điều trị bệnh nhân cao tuổi bị STC và các giai đoạn ổn định trong lộ trình chăm sóc, thúc đẩy việc tổ chức chăm sóc sức khỏe tốt hơn, cải thiện sự hợp tác giữa các bác sĩ chuyên khoa vì lợi ích của bệnh nhân, giúp chống lại sự ì ạch trong điều trị, tối ưu hóa điều trị và ngăn ngừa tái nhập viện có thể tránh được.

suytimgia

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 19 Tháng 3 2022 17:49

Cập nhật các khuyến cáo về điều trị thai bám sẹo mổ lấy thai

  • PDF.

Bs Nguyễn Anh Khiêm - 

Thai bám sẹo mổ lấy thai và tỷ lệ mắc bệnh

Thai bám sẹo mổ lấy thai (TBSMLT) là hiện tượng túi thai làm tổ tại vị trí sẹo mổ lấy thai trước đó ở tử cung. Đây là hình thái khá hiếm gặp của thai ngoài tử cung. TBSMLT gây biến chứng nặng nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời. Bệnh có nguy cơ cao gây vỡ tử cung và băng huyết đe dọa tính mạng người bệnh hoặc phải cắt tử cung khi bệnh nhân còn rất trẻ.

Tỷ lệ thực sự của TBSMLT vẫn chưa được biết, bởi vì tình trạng này có thể được chẩn đoán và báo cáo không đầy đủ. Các ước tính của một trung tâm được báo cáo về tỷ lệ mắc bệnh nằm trong khoảng từ 1/1800 đến 1/2656 của tổng số các trường hợp mang thai. Việc tăng cường sử dụng siêu âm qua âm đạo và nâng cao nhận thức của bác sĩ, có thể góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh.

Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế xuất hiện TBSMLT chưa được giải thích rõ ràng. có nhiều giả thuyết giải thích cơ chế bệnh sinh của TBSMLT, giả thuyết được chấp nhận nhiều nhất là phôi nang đóng vào cơ tử cung qua khe hở vi thể sẹo mổ lấy thai hay sẹo mổ ở tử cung. Bởi vì tại vị trí này là mô xơ nên việc làm tổ ở đây là nguy cơ cho nứt tử cung, nhau cài răng lược và băng huyết khi khối thai lớn lên.

seo mo

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 13 Tháng 3 2022 21:11

You are here Tin tức Tập san Y học