• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Gây tê hậu nhãn cầu

  • PDF.

BS Hồ Thiên Diễm - 

Gây tê nhãn cầu là một trong những thủ thuật gây tê mà trong đó Bác sĩ gây mê sẽ làm cho nhãn cầu bất động, đồng thời làm mất sự nhạy cảm của nhãn cầu và vùng xung quanh nó.

Các loại gây tê cho nhãn cầu bao gồm tê cạnh nhãn, tê hậu cầu, tê dưới bao tenon, tê bề mặt nhãn cầu.

Gây tê hậu nhãn cầu (retrobulbar) là làm tê liệt một nhóm dây thần kinh ở trong không gian sau nhãn cầu.

Kỹ thuật này lần đầu tiên được mô tả vào năm 1884 bởi Herman Knapp. Mục tiêu chính của thủ thuật này là gây tê giác mạc, màng bồ đào và kết mạc, cũng như giảm vận động của các cơ ngoại nhãn bằng cách tê các dây thần kinh thể mi và các dây thần kinh sọ II, III, VI.

gaytehnc1

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 27 Tháng 9 2021 10:45

Viêm phổi SARS-CoV-2 - liên kết thụ thể và bệnh học miễn dịch tại phổi

  • PDF.

Bs Lê Văn Tuấn - 

Vào tháng 12 năm 2019, một loại coronavirus mới ở người (HCoV) đã được xác định và được đặt tên là Coronavirus-2 gây hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV-2), do nó tương tự như Coronavirus gây hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS-CoV).

SARS-CoV-2 gây ra một căn bệnh có tên là bệnh coronavirus 19 (COVID-19), với các triệu chứng chính là ho, mệt mỏi, chán ăn, đau cơ, thiếu máu và tiêu chảy. Mặc dù hầu hết bệnh nhân COVID-19 có các triệu chứng vừa phải và hồi phục nhanh chóng, một số bệnh nhân phát triển hội chứng suy hô hấp cấp COVID 19 (CARDS). Trái ngược với hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), CARDS ban đầu được đặc trưng bởi tình trạng giảm oxy máu nghiêm trọng liên quan đến độ đàn hồi tương đối của phổi cho đến khi phát triển các giai đoạn nặng hơn. Bệnh nhân có thể có biểu hiện khá thoải mái về mặt lâm sàng với "giảm oxy máu thầm lặng" trong giai đoạn đầu. Hơn nữa, sự khác biệt giữa các giá trị cận lâm sàng và hình ảnh trình bày không phải là hiếm. CARDS có thể được trình bày thành hai loại phụ: loại H (độ đàn hồi cao tương tự như ARDS thông thường) và loại L (độ đàn hồi thấp) và việc nhận biết chúng dựa trên các đặc điểm chụp CT, có thể là điều tối quan trọng để cung cấp dịch vụ chăm sóc thích hợp. Thông thường, loại L gặp trước loại H, hiếm khi xuất hiện như là dạng chính của viêm phổi SARS-CoV-2 nặng. Sự không phù hợp về thông khí-tưới máu với các vùng không gian chết chủ yếu trên các phần của phổi có thể là một dấu hiệu của CARDS. Một nghiên cứu ủng hộ rằng việc huy động phế nang tốt hơn và oxy hóa nhiều hơn sẽ đạt được với giá trị PEEP cao ngay cả ở phân nhóm L có nguy cơ cao về tổn thương huyết động và phế nang.

vpcovid17

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 26 Tháng 9 2021 12:06

Đọc thêm...

Đẻ khó do con to

  • PDF.

BS Lê Quang Thịnh - 

1. Định nghĩa

Con to (Macrosomia) là khái niệm về sự tăng trưởng của thai kì mà ước lượng cân nặng trước sinh ≥ 4000 gram ở bất kì tuổi thai. Một vài tác giả phân ra thành độ 1 (4000- 4499 gram), độ 2 (4500-4999 gram) và độ 3 (≥ 5000gr).

Một khái niệm khác cũng hay được đề cập là “ con to so với tuổi thai” (LGA: large for gestational age), khi cân nặng thai nhi ước lượng trước sinh lớn hơn bách phân vị 90th theo tuổi thai. Ở thai kỳ bình thường thì mức cân nặng này nằm trong khoảng bách phân vị 10th- 90th theo tuổi thai.

2. Dịch tễ học

Một vài nghiên cứu cho thấy tỉ lệ béo phì và đái tháo đường trên toàn thế giới hiện nay tương ứng khoảng 33% và 10%. Điều này dẫn đến tỉ lệ thai kỳ con to toàn cầu tăng đáng kể, cụ thể:

  • Tỉ lệ chung:     ≥ 4000gr # 9%, ≥ 5000gr # 0.1%
  • Ở Mỹ: ≥ 4000gr # 7%, ≥ 5000gr # 1%
  • Ở những nước thu nhập thấp: ≥ 4000gr # 1-5%.

Theo những nghiên cứu hồi cứu tại Mỹ, tỷ lệ đẻ khó do kẹt vai chiếm tỷ lệ từ 3-7% và thay đổi ở nhiều nơi. Trong đó, biến chứng liệt đám rối thần kinh cánh tay là vấn đề cần chú ý khi xảy ra tình trạng mắc vai.

deconto

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 23 Tháng 9 2021 20:51

Cập nhật điều trị chấn thương gan

  • PDF.

Bs Nguyễn Đức Quang - 

Gan là tạng đặc lớn nhất trong ổ bụng nên dễ bị tổn thương trong chấn thương bụng kín cũng như vết thương thấu bụng. Chấn thương gan chiếm 15-20% trong chấn thương bụng kín và 13-35% trong vết thương thấu bụng. Nguyên nhân chấn thương gan khác nhau ở từng quốc gia tùy thuộc vào tình trạng giao thông, sử dụng vũ khí hay có chiến tranh. Ở Việt Nam, chấn thương gan thường gặp nhất là do tai nạn giao thông. Các nguyên nhân chấn thương gan khác có thể là tai nạn lao động tai nạn sinh hoạt, té cao, ẩu đả. Điều trị chấn thương gan có nhiều tiến bộ trong 3 thập niên qua giúp cải thiện đáng kể khả năng sống còn. Hầu hết các trường hợp tổn thương gan nhẹ và trung bình được điều trị bảo tồn thành công. Ngược lại, có đến 2/3 chấn thương gan nặng cần phẫu thuật. Cho đến nay, điều trị chấn thương gan nặng vẫn còn nhiều thách thức với tỷ lệ tử vong chung của chấn thương gan là 10-12,5%.

CTgan

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 23 Tháng 9 2021 20:35

Thay lại dây chằng chéo trước

  • PDF.

Bs Phạm Ngọc Ẩn - 

Ở Mỹ, thay lại dây chằng chéo trước (DCCT) khớp gối chiếm tỷ lệ 74,6/100.000 với tỷ lệ thành công lên đến 75 – 99% bệnh nhân. Tuy nhiên, tỷ lệ đứt mảnh ghép cao hơn ở bệnh nhân dưới 20 tuổi.

1. Nguyên nhân thất bại:

Xác định được nguyên nhân thất bại là chìa khóa để đạt được thành công khi tái tạo lại DCCT. Nghiên cứu cho thấy nguyên nhân thất bại gồm: Đứt lại DCCT (37%), chấn thương (32%), sai sót kỹ thuật (24%), các yếu tố sinh học gây đứt mảnh ghép ở 7% bệnh nhân.

Thay lại DCCT nhằm làm vững khớp, đạt tầm vận động khớp gối và chịu được tải trọng. Mảnh ghép tự thân có kết quả tốt với ít biến chứng tại nơi lấy mảnh ghép. Tuy nhiên, vị trí lấy mảnh ghép cho phẫu thuật thay lại phụ thuộc nhiều vào việc mảnh ghép đã được sử dụng trong phẫu thuật trước. Ghép cùng loài có tỷ lệ nguy cơ phẫu thuật tái tạo lại cao hơn ở bệnh nhân trẻ và vận động nhiều.

Sai sót kỹ thuật là nguyên nhân dẫn đến đứt mảnh ghép DCCT. Nguyên nhân thường gặp nhất là làm đường hầm không đúng vị trí, đặt vật liệu cố định không đúng hoặc lỏng vật liệu và chi bị lệch trục nhưng không được nhận biết. Mảnh ghép không đúng vị trí, không sinh lý. Nguyên nhân thường gặp nhất của sai vị trí đường hầm là đặt đường hầm đùi ra trước quá. Vị trí này dẫn đến giảm gấp khớp do căng mảnh ghép, khi gối gấp đạt tầm sinh lý bình thường có thể làm đứt dây chằng, làm đường hầm đùi quá đứng dẫn đến sự dịch chuyển trước - sau bị hạn chế. Vì vậy, độ vững của khớp gối khi xoay bị ảnh hưởng. Đặt đường hầm chày sai vị trí cũng ảnh hưởng đến mảnh ghép. Đặt đường hầm quá ra trước làm mảnh ghép bị chặn vào hố gian lồi cầu khi duỗi gối. Đặt ra sau làm lỏng mảnh ghép khi gấp gối và chặn dây chằng chéo sau.

Cố định mảnh ghép cũng rất quan trọng để duy trì vị trí và độ căng mảnh ghép, đặc biệt là trong hai tuần đầu sau mổ, khi mảnh ghép ở vào thời điểm yếu nhất. Mảnh ghép xương – gân – xương có thể thất bại khi bề mặt tiếp xúc xương – xương không đủ hoặc bị tụt do vít chặn không đủ tác dụng. Thất bại cố định mảnh ghép mô mềm xảy ra vì không đặt chính xác nút buộc nội soi hoặc lực căng không đủ khi cố định bằng dây treo.

Chi bị lệch trục không được nhận biết trước và bỏ sót các thương tổn kèm theo có ảnh hưởng đến nguy cơ đứt mảnh ghép. Góc nghiêng sau của mâm chày > 120 được xem là yếu tố dự đoán mạnh nhất cho tổn thương DCCT lặp lại theo Salmon và cộng sự. Những tổn thương cấu trúc sau trong, sau ngoài và sụn chêm khớp gối khi mổ tái tạo DCCT lần đầu nhưng không được điều trị cũng có thể dẫn đến hỏng mảnh ghép.

Đứt, thất bại mảnh ghép do chấn thương được chia thành 02 loại: trước khi mảnh ghép liền và sau khi bệnh nhân trở lại các hoạt động bình thường hoặc hoạt động thể dục thể thao.

Tập phục hồi chức năng sớm được ủng hộ, khởi đầu bằng tập ROM và tập sức căng nhẹ nhàng. Tuy nhiên, việc tập sức mạnh của cơ quá sớm (trước 02 tuần sau mổ) hoặc quá mức có thể gây nguy cơ cho mảnh ghép. Nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng mảnh ghép DCCT chỉ bằng 30% sức mạnh của DCCT tự nhiên trong năm đầu sau mổ. Một chấn thương cấp của khớp gối có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt giai đoạn phục hồi và có thể làm tổn thương mảnh ghép.

Các hoạt động thể thao với cường độ nặng có thể gây ra các vi chấn thương cho mảnh ghép. Các yếu tố nguy cơ gây đứt mảnh ghép sau khi trở lại hoạt động thông thường gồm: Tuổi < 25, các hoạt động xoay, nhảy hoặc các hoạt động thể dục thể thao có tính đối kháng, giảm sức mạnh của cơ tứ đầu đùi, cơ hamstring, test nhảy lò cò 1 chân sau mổ kém cho thấy có liên quan đến nguy cơ cao bị tái tổn thương dây chằng.

2. Đánh giá lâm sàng:

Phẫu thuật viên cần khai thác lại tiền sử, triệu chứng, các giới hạn chức năng khớp gối, tường trình phẫu thuật của lần mổ trước để đánh giá lại cơ chế tổn thương trước đó, các tổn thương kèm theo, loại ghép, phương pháp cố định mảnh ghép, protocol phục hồi chức năng sau mổ. Các hình ảnh nội soi trước đó, Xquang, MRI cũng nên được xem lại.

Các hoạt động thể thao, các giới hạn chức năng sau phẫu thuật lần đầu cũng cần được lưu ý. Bệnh nhân nên được tư vấn về các hoạt động thể lực có thể hoặc những mong đợi về chức năng để chắc rằng mong đợi của bệnh nhân là phù hợp với tiên lượng của cuộc mổ lại. Cuối cùng, bác sĩ phải xác định nguyên nhân thất bại của lần mổ trước để đảm bảo cho cuộc mổ lại thành công.

Khám lâm sàng khớp gối gồm đánh giá: tràn dịch khớp? nhiễm trùng? các đường mổ trước đó. Đánh giá sự thẳng trục chi, các biến dạng Varus, Valgus, các thương tổn khoang sau ngoài và sau trong nên được kiểm tra chuyên sâu bằng các thủ thuật đặc hiệu. Tầm vận động khớp cần được đánh giá và so sánh với bên lành và nên được đánh giá ở tư thế đứng và nằm để xác định các giới hạn cần phải tăng cường phục hồi chức năng trước mổ. Khám dây chằng bắt đầu bằng việc đánh giá ACL bằng test Lachman để đánh giá độ vững trước – sau và test Pivot shift để đánh giá mất vững xoay. Đánh giá dây chằng bên trong và dây chằng bên ngoài ở vị trí 00 và gấp 300. Đánh giá PCL bằng test ngăn kéo sau, test Dial cũng có thể được sử dụng để đánh giá các tổn thương sau-ngoài. KT-1000 cũng có thể được sử dụng để đánh giá chính xác hơn sự dịch chuyển mâm chày ra trước, sự khác biệt trên 3mm so với bên lành là có ý nghĩa chẩn đoán.

3. Hình ảnh học:

Tất cả các bệnh nhân có biểu hiện mất vững khớp gối tái phát cần phải khảo sát hình ảnh học bẳng Xquang khớp gối thẳng - nghiêng để đánh giá đường hầm chày, đùi. Harner và cộng sự cho rằng đường hầm chày nên bắt chéo qua mặt khớp ở điểm giữa của mâm chày trên phim thẳng và ở vị trí 1/3 trước trên phim nghiêng. Đường hầm đùi nên ở vị trí 1/4 sau của đường Blumensaat. Đường hầm ở vị trí chính xác sẽ không cần thiết phải làm lại, đường hầm ở vị trí không chính xác cần phải làm lại đường hầm mới qua xương tự nhiên hoặc cần phải sửa lại qua đường hầm cũ và đòi hỏi phải ghép xương trước khi làm đường hầm mới.

thay dc

Đường Blumensaat

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 21 Tháng 9 2021 11:34

Đọc thêm...

You are here Đào tạo