• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Cập nhật HIV và thai kỳ

  • PDF.

 Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) là nguyên nhân của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) vào năm 1983. Mặc dù AIDS lần đầu tiên được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 1981, chủ yếu là ở những người đồng tính luyến ái, nhưng sự lây nhiễm HIV hiện đã được báo cáo ở mọi quốc gia trên toàn thế giới và đã trở thành một đại dịch toàn cầu. Khoảng 37,9 triệu người trên toàn cầu đang sống chung với HIV / AIDS vào năm 2018, và 1,7 triệu trong số này là trẻ em (<15 tuổi). Ước tính có khoảng 1,7 triệu người trên thế giới mới nhiễm HIV trong năm 2018. Trong thời gian gần đây, sự tồn tại của HIV dường như hoàn toàn bị lu mờ bởi đại dịch coronavirus gây ra COVID 19. COVID 19 giống như các bệnh nhiễm trùng coronavirus khác (ví dụ, SAR, MER, v.v.) có khả năng bùng phát và biến mất khi những người sống sót trở lại cuộc sống khỏe mạnh. Tuy nhiên, HIV dường như vẫn tồn tại và người bị nhiễm sẽ phải đối mặt với hậu quả của việc sống chung với virus suốt đời vì vẫn chưa có phương pháp chữa trị hoặc vaccine nào để bảo vệ khỏi nó.

hiv thaiky

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 04 Tháng 12 2021 09:07

Đọc thêm...

Nghiên cứu các hình thái tổn thương đáy mắt ở bệnh nhân có bệnh lý võng mạc đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Bs Phan Nguyễn Tường Vi - 

TONTHUONGMAT

Xem tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 01 Tháng 12 2021 18:03

Tiếp cận và chẩn đoán các tổn thương dạng nang ở tụy trên cắt lớp vi tính

  • PDF.

Bs Trần Thị Ly Na - 

chandoantiepcan

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 30 Tháng 11 2021 20:16

Quy trình “Kỹ thuật giảm đau bằng thuốc tê-morphinic qua khoang ngoài màng cứng ngực qua bơm tiêm điện” để giảm đau sau phẫu thuật

  • PDF.

Bs Lê Tấn Tịnh - 

A. Các bước tiến hành:

1.Tư vấn và giải thích quy trình kỹ thuật giảm đau, ký cam kết thực hiện kỹ thuật giảm đau.

2.Thực hiện kỹ thuật đặt catheter ngoài màng cứng tại phòng mổ, trước khi thực hiện phương pháp vô cảm cho phẫu thuật.

3. Thực hiện bơm thuốc giảm đau sau khi bệnh nhân về phòng hồi sức ngoại, theo dõi và ghi chép các thông số vào phiếu theo dõi, điều chỉnh và sử trí các biến chứng.

quytrinh

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 30 Tháng 11 2021 20:27

Đặt stent nội sọ cứu vãn (RSA) trong điều trị đột quỵ cấp

  • PDF.

Bs Nguyễn Quốc Thái - 

Lấy huyết khối bằng stent retriever (SRT) là liệu pháp đầu tay đối với các trường hợp đột quỵ cấp do tắc mạch máu lớn nội sọ (LVO) của tuần hoàn trước. Sự vượt trội của SRT so với điều trị nội khoa đã được chứng minh trong một số thử nghiệm ngẫu nhiên, đa trung tâm. Trong những nghiên cứu này, bệnh nhân được điều trị bằng SRT đạt được tỷ lệ tái thông cao với mTICI 2b - 3 lên đến 88%.

Mặc dù ban đầu tái thông thành công nhưng bệnh nhân có thể phát triển tái tắc ngay sau đó. Tái tắc cấp hoặc tái hẹp mức độ cao sau SRT liên quan đến kết cục chức năng kém. Để giải quyết biến cố này, các chiến lược điều trị cứu vãn đã được sử dụng, bao gồm nong mạch (PTA), PTA bằng bóng phủ thuốc, và đặt stent cứu vãn (RSA) với stent tự giãn hoặc stent gắn bóng. Tác giả Chang và cs đã báo cáo kết cục tốt hơn đáng kể sau khi dùng RSA so với điều trị nội khoa.

Gần đây, Christian Paul Stracke và cs phân tích dữ liệu bệnh nhân từ 7 trung tâm mạch máu thần kinh để xác định các yếu tố dự báo kết cục kém sau RSA với số lượng bệnh nhân lớn nhất cho đến nay.

Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu não cấp do tắc động mạch lớn (LVO) nội sọ của tuần hoàn trước và sau, đây là những bệnh nhân đã được RSA từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 10 năm 2018.

stentcuuvan

Tiêu chuẩn chọn bệnh: (1) có bằng chứng về tắc mạch máu lớn nội sọ, (2) không có xuất huyết nội sọ, và (3) tái tắc cấp hoặc hẹp mức độ cao dai dẳng sau khi được lấy huyết khối bằng stent retriever (SRT).

LVO của tuần hoàn trước nội sọ được định nghĩa là tắc của: (1) động mạch cảnh trong, (2) động mạch não trước, (3) đoạn đầu tiên của động mạch não giữa (M1), và (4) đoạn thứ hai của động mạch não giữa (M2).

LVO của tuần hoàn sau nội sọ được định nghĩa là tắc của: (1) động mạch thân nền và (2) đoạn nội sọ của các động mạch đốt sống.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 28 Tháng 11 2021 12:37

You are here Đào tạo