• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Biến cố cơ học trong nhồi máu cơ tim cấp

  • PDF.

 

BS. Trương Duy Nghĩa – 

ĐẠI CƯƠNG

Trong vài thập kỷ qua, nhờ những tiến bộ trong tái tưới máu dựa trên thuốc, can thiệp tim mạch cũng như phẫu thuật cầu nối đã cải thiện kết cục lâm sàng cho những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp. Tuy nhiên, những bệnh nhân nhồi máu cơ tim với vùng tổn thương lớn hoặc những bệnh nhân không được tái thông mạch máu kịp thời vẫn có nguy cơ bị biến chứng cơ học của nhồi máu cơ tim cấp. Các biến chứng cơ học thường gặp nhất là hở van hai lá cấp tính thứ phát sau đứt cơ nhú, thông liên thất, giả phình vách thất và vỡ vách tự do. Việc xử trí bệnh nhân nhồi máu cơ tim có biến chứng cơ học rất phức tạp và đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa để phát hiện, chẩn đoán, ổn định huyết động và quyết định việc lựa chọn liệu pháp điều trị, phụ thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc, năng lực của bệnh viện…. Các yếu cố nguy cơ cao của biến cố cơ học: lớn tuổi, giới nữ, tái tưới máu chậm trễ, có tiền sử suy tim, bệnh thận mãn tính.

MỘT SỐ BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP

I. Đứt cơ nhú

- Gặp từ 0.05-0.26% trong nhồi máu cơ tim cấp

- Thường gặp ở ngày 3-5

- Tỷ lệ tử vong tại bệnh viện 10-40%

- Có 2 cơ nhú:

Cơ nhú trước bên: nuôi bởi LAD-Diagonal và LCx-OM, thường có 1 đầu dây chằng

Cơ nhú sau giữa: chỉ nuôi bởi RCA hoặc LCx >> tỷ lệ đứt phổ biến hơn, thường từ 1 đến 3 đầu dây chằng

- Đứt cơ nhú gây hở van 2 lá cấp, lâm sàng phụ thuộc vào mức độ hở van 2 lá

 bienco

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 01 Tháng 10 2022 10:04

Đọc thêm...

Quản lý biến chứng tắc ruột và thủng ruột do ung thư đại trực tràng

  • PDF.

Bs Nguyễn Đức Quang - 

bienchungkdaitrang

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 7 2022 16:23

Kiểm soát đường thở trên người trưởng thành

  • PDF.

Bs Phạm Văn Thịnh - 

Nội dung chính:

  • Một trong những trọng trách chính của bác sĩ gây mê (BSGM) là làm hạn chế các tác động bất lợi của gây mê lên hệ thống hô hấp bằng cách giữ cho đường thở thông thoáng và đảm bảo cung cấp oxy cũng như thông khí đầy đủ. Thuật ngữ kiểm soát đường thở liên quan đến lĩnh vực thực hành này và cũng là nền móng của ngành gây mê hồi sức (GMHS).
  • Cần nắm được kiến thức và sở hữu kỹ năng để có thể thành công trong việc kiểm soát đường thở - đặc biệt cần có khả năng tiên lượng khó khan trong kiểm soát đường thở và cách lên chiến lược kiểm soát, cũng như kỹ năng triển khai chiến lược với nhiều dụng cụ đường thở sẵn có.
  • Nắm vững kiến thức giải phẫu đường thở là điều cần thiết cho người làm công tác gây mê.
  • Đánh giá đường thở một cách toàn diện và nắm được các yếu tố tiên lượng đường thở khó có thể giúp BSGM nhận biết nguy cơ khó kiểm soát đường thở và giúp lên kế hoạch phù hợp.
  • Có thể cung cấp oxy trong giai đoạn ngưng thở để kéo dài khoảng thời gian ngưng thở mà không làm mất bão hòa và phương pháp này ngày càng được áp dụng nhiều trong quá trình quản lý đường thở khó và thường quy.
  • Gây tê đường thở hoặc dung thuốc tê để dẫn mê toàn diện thường được áp dụng cho hỗ trợ kiểm soát đường thở, nhằm tạo sự thoải mái cho bệnh nhân (BN), đồng thời làm giảm các phản xạ đường thở và đáp ứng huyết động của BN với các công cụ đường thở.
  • Gần đây, mas thanh quản (LMA) đang nổi lên với vai trò là một trong những phát kiến công cụ đường thở quan trọng nhất.
  • Đặt nội khí quản (NKQ) cho sự kiểm soát đường thở tuyệt đối, ngắn ngừa hít sặc dịch dạ dày một cách tối đa, và cho phép thông khí áp lực dương với áp lực đường thử cao hơn so với mặt nạ mặt hoặc dụng cụ trên thanh môn.
  • Đặt NKQ ống mềm trên BN thức tỉnh, tự thở và có khả năng hợp tác là tiêu chuẩn vàng trong kiểm soát đường thở khó.
  • Thủ thuật xâm lấn đường thở được chỉ định để giải cứu đường thở, khi các nỗ lực thiết lập đường thở không xâm lấn thất bại. Người làm GM nên thuần thục các kỹ thuật thông khí qua đường thở và mở màng nhẫn giáp.
  • Rút NKQ là một khâu quan trọng trong kiểm soát đường thơ với nguy cơ xảy ra biến chứng nghiêm trọng. Kế hoạch rút NKQ cần phải được đặt ra trước tiên và đi kèm một chiến lược đặt NKQ lại trong trường hợp BN không thể tự duy trì đường thở sau khi rút NKQ.

kiemsoattho

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 26 Tháng 7 2022 10:58

Các biến chứng của phẫu thuật nội soi

  • PDF.

Bs Lương Thành Vi - 

TỔNG QUAN

Giải phẫu học của cơ thể người về các cơ quan trong cơ thể không thay đổi, tuy nhiên những tiến bộ của việc áp dụng khoa học công nghệ, cải tiến các phương pháp phẫu thuật tối ưu nhất, ít xâm lấn, đào tạo tay nghề phẫu thuật viên ngày một hoàn thiện, đường cong huấn luyện bài bản, quản lí các biến chứng liên quan đến phẫu thuật ngày một chặt chẽ, nên tỷ lệ xảy ra các biến chứng trong phẫu thuật ngày một hạn chế, đặc biệt là những tai biến nghiêm trọng đe doạ tính mạng của người bệnh.      

Trong phẫu thuật nội soi, tỷ lệ các biến chứng nghiêm trọng liên quan đến quá trình phẫu thuật nói chung là thấp. Trong đó hơn một nửa số ca biến chứng xảy ra khi tiếp cận ổ bụng để đặt camera. Các biến chứng cũng có thể phát sinh trong lúc bơm khí CO2, bóc tách mô và cầm máu. Một số trường hợp phải chuyển sang mổ hở để xử trí các biến chứng trong quá trình phẫu thuật, một số những biến chứng khác chỉ phát hiện được trong giai đoạn hậu phẫu. Các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mạch máu lớn và thủng ruột có thể rất thảm khốc và là nguyên nhân chính gây ra tàn tật và tử vong của từng phẫu thuật liên quan đến phẫu thuật nội soi.

Phần lớn y văn đề cập về các biến chứng liên quan đến phẫu thuật nội soi được rút ra từ các tài liệu về sản phụ khoa, những nghiên cứu này đã cho chúng ta cái nhìn toàn diện nhất về những biến chứng trong phẫu thuật nội soi. Người ta cho rằng kết quả từ những nghiên cứu này có thể được áp dụng cho các phẫu thuật khác trong ổ bụng và sau phúc mạc, nhưng dù áp dụng ở đâu có thể, chúng ta phải nhận thức rõ rằng kết quả của phẫu thuật nội soi trong phụ khoa, phẫu thuật tổng quát và tiết niệu nên được phân biệt rõ ràng cụ thể cho từng loại phẫu thuật.

phnoisoi1

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 25 Tháng 7 2022 16:21

Quản lí độc tính xạ trị trong điều trị các u ác tính phụ khoa

  • PDF.

BS. Phạm Tấn Trà -

I. Đại cương:

Xạ trị là một phần quan trọng trong điều trị các khối u ác tính phụ khoa. Trên nền tảng các hướng dẫn điều trị dựa vào bằng chứng, xạ trị chiếm tỉ lệ hơn 60% ung thư cổ tử cung (CTC), 45% ung thư nội mạc tử cung (NMTC),35% ung thư âm hộ, 100% ung thư âm đạo và 5% bệnh nhân mắc ung thư buồng trứng (BT).

Xạ trị cho ung thư phụ khoa giúp điều trị triệt căn hoặc bổ trợ sau phẫu thuật hoặc tân bổ trợ trước phẫu thuật để giảm nguy cơ tái phát. Một vài khối u, hóa xạ trị thường được dùng đồn thời và có thể kết hợp xạ trị áp sát. Các mô bình thường của cổ tử cung, thân tử cung có thể dùng nạp liều cao xạ trị và hồi phục tốt sau những tổn thương. Bên cạnh đó sẽ có các mô dễ tổn thương hơn.

Tác dụng phụ và sự trầm trọng do xạ trị phụ thuộc vào kích thước, thể tích tiếp xúc và kế hoạch điều trị gồm: tổng liều, phân liều và phương thức xạ trị. Các yếu tố tác động như phẫu thuật, kết hợp hóa trị và bệnh đồng mắc. Một báo cáo lớn chỉ ra bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá thì ruột và bàng quang chịu ảnh hưởng nặng nề hơn.

Các yếu tố nguy cơ cao khiến bệnh nhân chịu độc tính xạ trị:

  • Bệnh mô liên kết mạch máu, chống chỉ định tương đối của xạ trị.
  • Bệnh viêm ruột mạn tính (Inflammatory bowel disease-IBD) có thể tăng nguy cơ mắc các biến chứng ruột cấp tính và muộn. Hiện nay còn có những tranh cải độc tính xạ trị và diễn tiến tự nhiên của bệnh IBD.
  • Thay đổi cấu trúc mạch máu- Dữ liệu hồi cứu đưa ra lời khuyên các bệnh nhân mắc tăng huyết áp, đái tháo đường thường chịu nhiều tác dụng phụ muộn hơn, có lẽ liên quan đến những thay đổi vi thể trên mạch máu.

doctinhxatri

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 25 Tháng 7 2022 16:10

You are here Đào tạo