• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Vài lợi ích của steroids trong ung thư

  • PDF.

Bs. Huỳnh Thị Hoanh - 

TỔNG QUAN

Steroids được sử dụng khá rộng rãi trong chuyên ngành ung bướu và đã được chứng minh là có tác dụng chống ung thư hoặc kháng viêm. Ngoài ra còn có thể cải thiện được những triệu chứng kháng trị như khó thở hay tắc ruột. Tuy nhiên, vai trò của nó trong những chỉ định không đặc hiệu vẫn chưa được chứng minh. Trong thực hành lâm sàng và một vài nghiên cứu đã cho thấy rằng cortisteriod có thể có hiệu quả trong điều trị đau xương và đau thần kinh khi kết hợp với opioids và các thuốc giảm đau bổ trợ khác. Khả năng giảm đau có lẽ liên quan đến cả tác dụng kháng viêm và giảm phù nề cũng như điều hòa thần kinh-miễn dịch lẫn ức chế tăng sinh mạch.

Steroid

GIỚI THIỆU

Steroids được sử dụng khá phổ biến trong chuyên ngành ung thư, từ phác đồ điều trị bệnh đến chăm sóc giảm nhẹ. Hiệu quả chống ung thư của nó đã được chứng minh trong điều trị lymphoma hay leukemia, khả năng chống phù nề trong u não hay di căn não, ngoài ra còn giúp cải thiện những triệu chứng kháng trị như khó thở hay tắc ruột. Mặc dù những tác dụng này đã góp phần chứng tỏ rằng steroids luôn luôn có ích nhưng có ít bằng chứng về hiệu quả cũng như độc tính của corticosteroids trong ung thư. Vài nghiên cứu không đối chứng đã báo cáo lợi ích của corticosteroids trong kiểm soát đau và triệu chứng, nhưng vẫn còn những vấn đề tồn tại như:

  • Đau có phải là một chỉ định để sử dụng steroids không?
  • Những chỉ định của steroids là gì?
  • Steroids hiệu quả bao lâu trong kiểm soát triệu chứng, bao gồm cả đau?
  • Liều hiệu quả nhất cuả steroids là bao nhiêu?
  • Đâu là những tác dụng bất lợi phổ biến chứng của steroids trên bệnh nhân ung thư?
  • Steroids có đang bị lạm dụng trong chăm sóc giảm nhẹ?

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 02 Tháng 6 2022 18:18

Đọc thêm...

Bảng tóm tắt các khuyến cáo của WHO (2018) về chăm sóc sản phụ chuyển dạ để có trải nghiệm sinh tích cực

  • PDF.

BS Lê Quang Thịnh - 

Năm 2018, WHO đã chính thức phát hành những khuyến cáo nhằm thiết lập các chuẩn mực toàn cầu trong chăm sóc cho phụ nữ mang thai khỏe mạnh và giảm các can thiệp y khoa không cần thiết. Với những chứng cứ y học, hướng dẫn của WHO chia thành 4 nhóm : khuyến cáo nên làm (31 khuyến cáo), khuyến cáo không nên làm (22 khuyến cáo), khuyến cáo chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệt (2 khuyến cáo), và khuyến cáo cần nghiên cứu thêm (1 khuyến cáo). Dưới đây là bảng tóm tắt về khuyến cáo của WHO về chăm sóc chuyển dạ cho một cuộc sinh tích cực.

csde

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 31 Tháng 5 2022 18:32

Những thách thức về quản lý huyết động trong sốc nhiễm trùng

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Liên Hoa - 

Một tổng quan về quản lý huyết động ở những bệnh nhân sốc nhiễm trùng, chiến lược trong việc phát hiện những thay đổi về huyết động và hành động điều trị thích hợp để cải thiện tiên lượng của những bệnh nhân này.

Giới thiệu

Nhiễm trùng huyết là một trong những nguyên nhân chính của việc nhập viện vào Đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU). Nó được định nghĩa như là một rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng, gây ra bởi rối loạn điều hòa đáp ứng cuả vật chủ với tác nhân nhiễm trùng (Singer et al. 2016). Sốc nhiễm trùng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới mỗi năm, gây tử vong từ 1/3 đến 1/6 những người mắc phải (Evans et al. 2021). Nó là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới. Tử vong chung ở những bệnh nhân nhập viện do nhiễm trùng huyết có thể lên đến 24,2% và cao hơn ở bệnh nhân có bệnh đồng mắc (33,1 so với 19,1%) (Kaukoken và cộng sự 2014). Sốc nhiễm trùng có tỷ lệ tử vong ~ 40% (Singer et al. 2016).

huyetdong

Điều trị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng bao gồm điều trị nhiễm trùng bằng kháng sinh và kiểm soát nguồn nhiễm trùng đồng thời hỗ trợ chức năng đa cơ quan. Những thay đổi huyết động kèm theo sốc nhiễm trùng liên quan đến sự giảm nghiêm trọng sức cản mạch hệ thống (SVR), sự tăng cung lượng tim (CO) ban đầu do giảm hậu tải thất trái (LV) và tăng nhu cầu chuyển hóa tế bào, bên cạnh đó sự giảm thể tích tương đối do rò rỉ chất lỏng qua mạch hoặc giảm thể tích tuyệt đối khi bệnh nhân bị mất chất lỏng đáng kể hoặc không dung nạp chất lỏng đường miệng (ví dụ, nhiễm trùng huyết có nguồn gốc từ ổ bụng hoặc sau phẫu thuật). Ngoài ra, viêm mãn tính có thể dẫn đến suy tuyến thượng thận (tương đối) và bệnh cơ tim. Bất chấp những tiến bộ y học, việc quản lí tất cả những thay đổi này vẫn còn là thách thức với bác sĩ chuyên khoa, họ phải tập trung vào việc khôi phục tưới máu mô để tăng cường phân phối oxy (D02) đến các mô và hạn chế suy các cơ quan.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 28 Tháng 5 2023 07:57

Đọc thêm...

Cường lách

  • PDF.

Bs Lương Thành Vi - 

I. Tổng quan bệnh Cường lách

Lá lách là một cơ quan có nhiều mạch máu, tham gia vào quá trình cân bằng nội môi miễn dịch và huyết học. Hệ mạch, vị trí và chức năng của nó làm cho lá lách dễ mắc phải một số tình trạng có thể khó đánh giá và điều trị. Chứng cường lách (Hypersplenism) đề cập đến một nhóm các hội chứng liên quan đến lách to và giảm tế bào ngoại vi sớm và nhanh chóng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Giảm tiểu cầu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xơ hóa gan và giảm nghiêm trọng số lượng tiểu cầu là một yếu tố nguy cơ chính của bệnh cường lách. Cơ chế bệnh sinh thay đổi đáng kể ở mỗi bệnh nhân. Một số cơ chế gây ra chứng cường lách đã được xác định, và chủ yếu liên quan đến việc lưu giữ trong lá lách, thực bào, và tự miễn dịch.

Thuật ngữ 'hypersplenism' xuất hiện lần đầu tiên trong luận án của Anatole Chauffard vào năm 1907, và sau đó là trong nghiên cứu của Morawitz và Denecked. Năm 1955, Dameshek đã tổng kết rằng bệnh cường lách nên được chẩn đoán khi có bốn điều kiện: giảm các tế bào ngoại vi đơn dòng hoặc toàn bộ; tăng sản bù trừ của tủy xương; lách to; và điều chỉnh tế bào máu ngoại vi sau khi cắt lách. Mặc dù bốn điều kiện này không phải lúc nào cũng áp dụng cho tất cả các trường hợp, nhưng chúng thường được trích dẫn trong y văn và rất quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh cường lách. Theo nguyên nhân gây bệnh, cường lách chia làm 3 loại: cương lách nguyên phát, cường lách thứ phát, cường lách huyền bí (Occult hypersplenism).

Hypersplenism

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 29 Tháng 5 2022 09:31

Cơ chế di căn xương

  • PDF.

Bs Trần Quốc Dũng - 

I. TỔNG QUAN

Xương là vị trí di căn khối u thường xuyên thứ ba. Người ta ước tính rằng 280.000 bệnh nhân ở Hoa Kỳ đang sống chung với di căn xương. Phân tích hồ sơ y tế đã chứng minh rằng 8,4 phần trăm bệnh nhân có khối u đặc bị di căn xương sau 10 năm kể từ lần chẩn đoán ban đầu.

Tỷ lệ di căn xương thay đổi tùy theo vị trí khối u nguyên phát. Xương là vị trí di căn hay gặp của ung thư vú và tuyến tiền liệt, với 50 đến 70 phần trăm bệnh nhân mắc bệnh tiến triển có liên quan đến xương. Nhiều bệnh ung thư khác, bao gồm ung thư phổi, ung thư tế bào thận, và ung thư hắc tố, cũng di căn xương trước khi di căn đến các cơ quan khác. Ví dụ, trong loạt khám nghiệm tử thi, 30 đến 40 phần trăm bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến giáp, thận và phế quản có di căn xương. Mặc dù các khối u ác tính về huyết học không thường xuyên gây ra bệnh xương, nhưng đa u tủy xương là loại ung thư thường gặp nhất liên quan đến xương, với 70% bệnh nhân có liên quan đến xương khi được chẩn đoán và hơn 80% bệnh nhân có liên quan đến xương với bệnh tiến triển. Điều quan trọng là, sự hiện diện của ung thư trong xương được gọi là "kiểu hình gây chết người" vì bệnh nhân hiếm khi có thể chữa khỏi.

Quá trình tái tạo xương bình thường bị rối loạn rõ rệt trong di căn xương, với sự mất cân bằng cả về số lượng và hoạt động của tế bào hủy xương và nguyên bào xương. Những xáo trộn này trong quá trình tái tạo xương có thể dẫn đến các biến chứng liên quan đến xương (skeletal-related events (SREs)), là những biến chứng thường gặp (31 đến 47% bệnh nhân ung thư vú hoặc tuyến tiền liệt hoặc u tủy) để lại di chứng nặng nề cho bệnh nhân. SREs bao gồm đau xương dữ dội, gãy xương bệnh lý, hội chứng chèn ép tủy sống và dây thần kinh, và rối loạn cân bằng nội môi canxi và phosphat có thể dẫn đến tăng canxi huyết đe dọa tính mạng. Bởi vì liên quan đến xương là nguồn chính của cơn đau liên quan đến ung thư và là nguyên nhân chính gây ra cơn đau dữ dội cho những bệnh nhân có khối u ác tính tiến triển, SREs không chỉ làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, điều này ảnh hưởng nhiều hơn đến khả năng sống.

dicanxơng

Xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo