Bs Huỳnh Thị Thủy Tiên -
1. ĐẠI CƯƠNG
Theo YHCT không ghi nhận danh từ “Bệnh loét dạ dày tá tràng”, chủ yếu dựa vào những biểu hiện triệu chứng của bệnh, do đó viêm loét dạ dày tá tràng được xếp vào phạm trù chứng “Vị thống, Tào tạp, Vị thương.”
2. NGUYÊN NHÂN
Chủ yếu do ngoại tà phạm Vị, ẩm thực thất điều, thực trệ thương Vị, tình chí nội thương, Can khí phạm Vị, thể chất Tỳ hư, hậu thiên thất dưỡng.
Thấp tà dễ phạm vào Tỳ vị, người thể chất âm hư dễ sinh thấp nhiệt, người thể chất dương hư dễ sinh hàn thấp, nơi mà tà khí phạm phải làm ứ trệ chức năng của khí cơ, khiến vị khí bất hoà gây ra bệnh.
Ăn uống không điều độ, no đói thất thường sẽ làm tổn thương Tỳ vị, vận hoá thất thường, thức ăn không tiêu hoá được ứ đọng ở vị quản khiến khí cơ không lưu thông, không thể thực hiện chức năng hoà giáng mà biểu hiện nên vùng thượng vị chướng đau.
Tình chí lo lắng, ưu từ phiền muộn thoái quá, khiến Can mất sơ tiết mà hoành nghịch phạm vào vị. Nếu can uất hoá nhiệt, nhiệt hoa đốt tổn thương phần âm của Vị khiến Vị không được nhu nhuận khiến vùng thượng Vị đau âm ỉ. Nếu khí uất lâu ngày, huyết dịch không được lưu thông khiến cho huyết mạch ngưng trệ, ứ huyết ở Vị biểu hiện nên vùng thượng vị đau nhói co thắt.
Thể chất Tỳ vị hư nhược hoặc bệnh lâu ngày phục hồi kém, hoặc sử dụng thuốc không thích hợp đều làm tổn thương đến Tỳ vị, khiến Tỳ vị hư nhược, khí hư không thể vận hoá hoặc dương hư không ôn dưỡng mà gây ra vùng thượng vị đau tức.
3. CƠ CHẾ BỆNH
Cơ chế bệnh của thực chứng chủ yếu gồm:
- Khí trệ
- Hàn ngưng tụ
- Thực tích
- Huyết ứ
- Thấp nhiệt
Cơ chế bệnh của hư chứng gồm:
- Khí (dương) hư
- Âm hư
Cơ chế bệnh sinh của bệnh là do khí cơ của Vị bị tắc trở, mạch lạc thất dưỡng, Vị không hoà giáng mà sinh ra “bất thông tắc thống, thất vinh tắc thống”.
Bệnh chia làm 2 nhóm chính: hư chứng và thực chứng.
- Hư chứng gồm: Tỳ vị hư hàn, Vị âm bất túc.
- Thực chứng gồm: Can vị bất hoà, Can vị uất nhiệt, Vị lạc ứ huyết, Tỳ vị thấp nhiệt.
Các yếu tố khởi phát phần lớn là do ăn uống không điều đồ hoặc yếu tố tâm lý. Khi yếu tố tâm lý không thư thái dễ tổn thương tạng Can, Can khí uất trệ hoành nghịch phạm Vị, Vị mát chức năng hoà giáng, Can khí làm tổn thương Tỳ khiến Tỳ không vận hoá, thấp trọc nội sinh hoặc thấp trọc hoá nhiệt, thấp nhiệt đi lên trên khiến Vị khí thượng nghịch sau cùng khí uất hoá hoả gây tổn thương phần âm, khí trệ hàn ngưng tụ mà tổn thương phàn dương hoặc khí trệ mạch lạc ứ tắc mà hình thành nên đau do huyết ứ.
Tính chất bệnh chia ra hư, thực, hàn, nhiệt.
4. ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Phép trị chính: Kiện Tỳ lý khí, hoà Vị chỉ thống, thanh nhiệt hoá ứ.
Trong trường hợp đang trong giai đoạn hoạt động của bệnh, biểu hiện ra các triệu chứng lâm sàng thuộc “Thực chứng” nên dùng phép: “Lý khí đạo trệ, thanh nhiệt hoá ứ.”
Trong trường hợp vết loét lâu ngày hoặc bệnh tái phát nhiều lần, nên dùng phép tiêu bản kiêm cố nhiếp như kiện Tỳ-lý khí hoặc hoà Vị -hoá ứ.
Trong trường hợp có nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, vết loét lớn hoặc xuất huyết tiêu hoá trên, nên kết hợp thêm phương pháp của Tây y.
Các phương pháp điều trị cơ bản như:
- Hào châm
- Điện châm
- Cứu
- Nhĩ châm
- Đầu châm
- Laser châm
- Thuỷ châm
- Cấy chỉ
Các phương pháp được áp dụng đa dạng, tuỳ trường hợp cụ thể trên lâm sàng.
5. MỘT SỐ VỊ THUỐC DÙNG TRONG VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
Các loại thảo dược được sử dụng khá nhiều như Hải phiêu tiêu, Diên hồ sách, Bạch cập, Xuyên luyện tử, Ô tặc cốt, Bối mẫu, Hậu phác, Đan sâm, Mộc hương, Sa nhân…
Hải phiêu tiêu được nghiên cứu là kê đơn nhiều nhất, thành phần chính là Canxi cacbonat chiếm 80-85% có thể hoạt động như một loại thuốc kháng acid giúp giảm sự khó chịu do hoạt động tăng tiết acid quá mức trong dạ dày. Kết hợp Hải phiêu tiêu và Bối mẫu giúp ngăn ngừa tổn thương dạ dày do etanol trên mô hình thí nghiệm ở chuột.
Diên hồ sách là thảo dược được kê đứng thứ hai, được sử dụng rộng rãi trong điều trị phúc thống do khí trệ. Nó đã được báo cáo về hiệu quả ức chế sự hoạt động của H.pylori, chữa lành vết loét và giảm đau. Ngoài ra các vị thuốc khác cũng có hiệu quả đáng kể trong bệnh viêm loét dạ dày tá tràng như Bạch cập, không chỉ có tác dụng chống viêm mà còn có tác dụng cầm máu, Xuyên luyện tử thì có tác dụng giảm đau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn nội khoa đông y, “Bệnh học và điều trị nội khoa kết hợp đông Tây y, Tập 2”.
- 05/06/2026 15:45 - Kiểm soát cận thị tiến triển ở trẻ em: Không đơn t…
- 02/06/2026 16:24 - Dinh dưỡng điều trị bệnh tai biến mạch máu não
- 02/06/2026 13:26 - Định lượng Hemoglobin A1C
- 16/05/2026 15:52 - Ngày Thế giới phòng chống Tăng huyết áp 17/05/2026…
- 06/05/2026 20:13 - Người bệnh tiểu đường cần biết: Đừng đợi mờ mắt mớ…
- 22/04/2026 20:26 - Nâng cao năng lực quản lý chất lượng và an toàn ng…
- 21/04/2026 20:27 - Hãy nói không với thuốc lá - Hưởng ứng Ngày Thế gi…
- 19/04/2026 20:04 - Sử dụng thuốc cho các đối tượng đặc biệt






