BsCKII Trần Lâm -
Liệu pháp chống huyết khối (antithrombotic therapy) bao gồm 2 thành phần là liệu pháp kháng đông (anticoagulant therapy) và liệu pháp kháng tiểu cầu (antiplatelet therapy).
Liệu pháp kháng tiểu cầu là một thành phần thiết yếu của điều trị chống huyết khối xơ vữa. Thuốc kháng tiểu cầu được sử dụng đơn trị hoặc phối hợp (aspirin và một thuốc ức chế thụ thể P2Y12) trong chỉ định phòng ngừa và điều trị các bệnh tim mạch do xơ vữa như bệnh động mạch vành, bệnh mạch máu não và bệnh động mạch ngoại biên.
1. Biến cố tim mạch trong thời gian chu phẫu:
Thời gian chu phẫu được đặc trưng bởi sự hiện diện của các tình trạng tiền viêm và tiền đông làm tăng nguy cơ xuất hiện hội chứng tắc mạch cấp. Các thuốc kháng tiểu cầu có tác dụng làm giảm các biến cố tắc mạch và đối phó với tình trạng tăng hoạt tính tiểu cầu sau phẫu thuật. Một phân tích gộp lớn gồm 50.279 bệnh nhân sử dụng aspirin để phòng ngừa thứ phát cho thấy, nguy cơ biến cố tim mạch nặng sau khi ngưng aspirin cao gấp 3 lần (OR = 3,14) so với tiếp tục điều trị aspirin. Điều này thậm chí rõ ràng hơn ở bệnh nhân có đặt stent mạch vành (OR = 89,78). Tuy nhiên, tiếp tục điều trị aspirin cũng có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết. Vì vậy, ngưng điều trị aspirin chỉ nên được xem xét nếu nguy cơ xuất huyết nhiều hơn nguy cơ biến cố huyết khối.

Hình 1. Cơ chế bệnh sinh của huyết khối stent, nhồi máu cơ tim và tử vong ở bệnh nhân đặt stent mạch vành được phẫu thuật










