• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Sử dụng thuốc chống loạn nhịp trong và ngay sau khi ngừng tim

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hồng Hoa – Khoa Cấp Cứu

1. Thuốc chống loạn nhịp thường được dùng trong và ngay sau rung thất (VF)/nhịp nhanh thất vô mạch (pVT). Tuy nhiên, không rõ liệu những loại thuốc này có cải thiện kết cục của bệnh nhân hay không.

2. Các cập nhật chính của AHA 2018 về hướng dẫn Hỗ trợ chuyên sâu (ACLS) tóm tắt bằng chứng được công bố gần đây nhất và các khuyến cáo về việc sử dụng thuốc chống loạn nhịp tim trong và ngay sau khi ngừng tim do VF/pVT kháng trị với sốc điện.

3. Các hướng dẫn cập nhật nêu rõ amiodarone hoặc lidocaine có thể được xem xét cho VF/pVT không đáp ứng với khử rung. Những loại thuốc này có thể đặc biệt có lợi cho những bệnh nhân được nhìn thấy ngừng tim, khi mà thời gian dùng thuốc có thể ngắn hơn.

ngungtim

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 14 Tháng 5 2019 17:32

Ung thư vùng đầu và cổ (p.5)

  • PDF.

Bs Nguyễn Duy Phi Hiệp - Khoa Ung bướu

10.Điều trị:

Liệu pháp xạ trị

Trong hai thập kỷ qua, liệu pháp xạ trị đã phát triển thành một kỹ thuật đòi hỏi nhạy bén trong cả việc đánh giá sinh học khối u lẫn vật lý xạ trị. Việc sử dụng CT để mô phỏng và kỹ thuật ba chiều cho lập kế hoạch điều trị đã cải thiện độ chính xác trong thiết kế trường chiếu dựa trên sự hiểu biết về kích thước của khối u thông qua tia X. Kỹ thuật IMRT đã giúp giảm độc tính tại mô bình thường trong khi vẫn duy trì liều cao đến thể tích bia đích. Lợi ích của những tiến bộ này đã được chứng minh bằng sự cải thiện kiểm soát bệnh tại chỗ và giảm độc tính đối với mô bình thường. Ngoài ra, về mặt lý thuyết , bức xạ sử dụng các hạt tích điện, như proton hoặc ion carbon, không phải là các photon thông thường, có lợi thế trong việc tránh các mô bình thường nhạy cảm.

k dau1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 09 Tháng 5 2019 17:38

Xét nghiệm sàng lọc máu

  • PDF.

Khoa Huyết Học truyền máu

I. ĐẠI CƯƠNG

An toàn truyền máu là chủ đề xuyên suốt trong chiến lược truyền máu của quốc gia, trong đó sàng lọc các tác nhân lây nhiễm qua đường truyền máu được xem là một trong những mục tiêu then chốt. Các tác nhân gây bệnh này có thể được truyền từ máu và chế phẩm máu của người cho máu đã nhiễm bệnh sang người nhận. Tại nước ta, công tác sàng lọc các tác nhân lây nhiễm qua đường truyền máu được tuân thủ theo những quy định trong thông tư hướng dẫn an toàn truyền máu do Bộ Y Tế ban hành năm 2013, gồm: Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV), vi rút viêm gan B (HBV), vi rút viêm gan C (HCV), giang mai, ký sinh trùng sốt rét.

hiv1

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 07 Tháng 5 2019 12:21

Ung thư tuyến giáp (p.1)

  • PDF.

Bs Lê Trung Nghĩa - Khoa Ung bướu

A. Giới thiệu:

Ung thư tuyến giáp có thể xuất phát từ các tế bào nang tuyến giáp (ung thư tuyến giáp dạng nhú, nang, có nguồn gốc từ tuyến giáp) hoặc từ các tế bào C (ung thư tuyến giáp tủy (MTC) Ung thư nhú và nang thường được nhóm lại với nhau như ung thư tuyến giáp biệt hóa tốt (DTC) để phân biệt với ung thư tuyến giáp thể tủy và ung thư tuyến giáp biệt hóa kém. Hiếm khi, các khối u có thể phát sinh từ các tế bào kẽ của tuyến giáp, chẳng hạn như ung thư hạch và sarcomas. Rất hiếm khi khối u từ các cơ quan khác có thể di căn đến tuyến giáp.

k giap

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 07 Tháng 5 2019 12:06

Viêm dạ dày tự miễn

  • PDF.

Bs. Trần Thị Minh Thịnh - Khoa Nội Tiêu hoá

I. Đại cương

Viêm dạ dày tự miễn là tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày tập trung chủ yếu thân và phình vị do xuất hiện kháng thể chống lại tế bào thành của dạ dày và yếu tố nội, có thể dẫn đến phá hủy lớp niêm mạc dạ dày, hậu quả dẫn đến là thiếu máu và thiếu vitamine B12, thậm chí dẫn đến ung thư dạ dày.

II. Cơ chế bệnh sinh.

Trong viêm dạ dày tự miễn vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất là phình vị và thân vị và hầu hết bệnh nhân có kháng thể với tế bào thành hoặc kháng thể với yếu tố nội dương tính. Cơ chế bệnh sinh là do thâm nhiễm tế bào lympho và sự phá hủy đặc hiệu của tế bào thành, tế bào chính vùng thân vị dẫn đến sự giảm hoặc biến mất của các tuyến dạ dày cũng như sự tăng sinh của các tế bào cổ tuyến chưa trưởng thành. Những tế bào này có thể biệt hóa thành dạng tế bào như các tế bào ưa chrôm ở ruột có khả năng giải phóng histamine từ đó làm tăng nông độ gastrin. Chính sự tăng sinh của nhóm tế bào này có thể gây nguy cơ hình thành khối u các tế bào ưa chrôm ở ruột trong viêm dạ dày tự miễn.

AUTOIMMUNE-GASTRITIS

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 25 Tháng 4 2019 21:14

You are here Tổ chức Tập san Y học