• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Acid folic và 5 MTHF trong thai kỳ

  • PDF.

BS Đinh Thị Thu Trang -

Dị tật ống thần kinh là một trong những dị tật bẩm sinh nặng nề, hình thành rất sớm trong những tuần đầu của thai kỳ. Từ nhiều thập kỷ qua, vai trò của folate trong dự phòng dị tật ống thần kinh đã được khẳng định rõ ràng. Acid folic – dạng tổng hợp của vitamin B9 – được khuyến cáo bổ sung rộng rãi cho phụ nữ chuẩn bị mang thai và trong thai kỳ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả phụ nữ đều chuyển hóa acid folic với hiệu quả như nhau. Sự xuất hiện của 5-methyltetrahydrofolate (5-MTHF) – dạng folate hoạt động sinh học – cùng với các vấn đề như đột biến gen MTHFR và sự tích tụ acid folic chưa chuyển hóa (UMFA) đã đặt ra câu hỏi về việc lựa chọn dạng folate phù hợp trong thai kỳ.

Bài chuyên đề này nhằm tổng quan vai trò của acid folic và 5-MTHF trong thai kỳ, làm rõ sự khác biệt giữa hai dạng bổ sung, đồng thời cập nhật các bằng chứng và khuyến cáo lâm sàng hiện nay.

 ACIDFOLIC

1. Tổng quan về folate

Folate là thuật ngữ chung chỉ các dạng tự nhiên của vitamin B9 có trong thực phẩm.

Acid folic là dạng tổng hợp, ổn định, thường được sử dụng trong chế phẩm bổ sung và thực phẩm tăng cường. Sau khi vào cơ thể, acid folic cần trải qua nhiều bước chuyển hóa để trở thành dạng có hoạt tính sinh học.

5-Methyltetrahydrofolate (5-MTHF) là dạng folate hoạt động sinh học chính trong huyết tương, tham gia trực tiếp vào các phản ứng sinh hóa quan trọng, đặc biệt là chu trình methyl hóa và chuyển hóa homocysteine.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 24 Tháng 12 2025 14:56

Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay

  • PDF.

Ths. BSNT. Trần Văn Quốc Việt - 

Tổng quan

Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay là nhóm bệnh lý thường gặp ở chi trên, bao gồm hai nhóm bệnh chính là viêm mỏm trên lồi cầu ngoài (còn gọi là bệnh lý khuỷu tay tennis) và viêm mỏm trên lồi cầu trong (còn gọi là bệnh lý khuỷu tay golfer), trong đó nhóm bệnh lý viêm mỏm trên lồi cầu ngoài hay gặp hơn, với tần suất nhiều hơn khoảng 10 lần viêm mỏm trên lồi cầu trong. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích nhóm bệnh lý viêm mỏm trên lồi cầu ngoài.

Về mặt dịch tễ, bệnh gặp cả nam và nữ với tỷ lệ tương đương, thường gặp ở người từ 30 – 50 tuổi. Cơ chế bệnh sinh do vận động sấp ngửa liên tục khuỷu tay ở tư thế duỗi, các vi chấn thương lặp đi lặp lại do đó làm thoái hóa gân cơ bám vào, lâu ngày dẫn đến rách bán phần thậm chí rách toàn phần. Thực tế tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam chúng tôi hay gặp các bệnh nhân nữ trung niên làm nghề buôn bán và nam giới trung niên làm công việc đồng áng, phụ hồ, thỉnh thoảng gặp những bệnh nhân chấn thương do chơi thể thao: những công việc duỗi và vận động khuỷu liên tục trong thời gian dài.

Về mặt chẩn đoán, bệnh lý được chẩn đoán bằng bệnh sử và thăm khám lâm sàng. Tuy vậy, siêu âm và MRI giúp cung cấp bằng chứng hình ảnh củng cố thêm chẩn đoán. Trong khuôn khổ bài viết chẩn đoán hình ảnh, chúng tôi xin được lược qua phần chẩn đoán lâm sàng và điều trị.

Giải phẫu

Đây là vùng có giải phẫu tương đối phức tạp, chúng tôi tóm tắt bằng một bảng đối sánh nhỏ.

viemmom

Xem tiếp tại đây

 

Điều trị thuốc đái tháo đường ở bệnh nhân bị bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá

  • PDF.

Bs Vũ Thị Lê Thuỳ - 

Khoảng 15%–20% người mắc bệnh đái tháo đường type 2 có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá và đang trên con đường phát triển xơ gan nếu không được điều trị. Tỷ lệ mắc bệnh cao này tương đương hoặc cao hơn so với các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường khác như bệnh thận do đái tháo đường, bệnh võng mạc do đái tháo đường đường hoặc bệnh thần kinh do đái tháo đường. Mặc dù không có loại thuốc hạ đường huyết nào được chấp thuận để điều trị bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hoá, nhưng trong điều trị bệnh đái tháo đường, nên ưu tiên những phương pháp điều trị có bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả đối với bệnh gan nhiễm mỡ từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu (ví dụ: GLP-1RA và/hoặc pioglitazone, hoặc tirzepatide GIP/GLP-1RA kép), với mục đích kép là điều trị tăng đường huyết và gan nhiễm mỡ. Một khi xơ gan đã hình thành, hiện tại không có phương pháp điều trị hiệu quả nào.

ganmo

Xem tiếp tại đây

Những tiến bộ gần đây trong chẩn đoán nội soi để phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày

  • PDF.

Bs Buì Thị Bích Liễu - 

Khoảng 90% trường hợp ung thư dạ dày (GC) là do nhiễm khuẩn Helicobacter pylori gây ra , và nội soi thực quản dạ dày tá tràng (ESOGDA) có hiệu quả trong phòng ngừa thứ phát GC. Các hình ảnh nội soi dạ dày do nhiễm H. pylori rất đa dạng, và nguy cơ mắc GC thay đổi tùy thuộc vào từng hình thái. Nguy cơ GC được đánh giá bằng cách kết hợp các hình ảnh nội soi và mô bệnh học. Trong phân loại giai đoạn viêm dạ dày và phân loại giai đoạn dị sản ruột dạ dày, nguy cơ GC được xác định bằng đánh giá mô bệnh học. Trong phân loại nội soi dị sản ruột dạ dày, phân loại Kyoto và phân loại Kyoto sửa đổi, nguy cơ được xem xét dựa trên các phát hiện trên nội soi. Tuy nhiên, việc đánh giá các hình ảnh nội soi rất khó khăn vì phải phụ thuộc vào kỹ năng của bác sĩ nội soi. Tương tự, các kết quả mô bệnh học có thể được đánh giá khác nhau bởi các nhà giải phẫu bệnh khác nhau. Đánh giá mô bệnh học bằng sinh thiết có nguy cơ chảy máu; do đó, cần có các phương pháp phân tầng nguy cơ đơn giản và ít xâm lấn hơn. Trí tuệ nhân tạo phân tầng nguy cơ, với tiềm năng cải thiện độ chính xác và tính nhất quán, đã được phát triển cho các đánh giá nội soi và mô học. Việc phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày phù hợp sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế và bệnh nhân, và cần thiết phải đánh giá thêm cần khoảng thời gian theo dõi để điều chỉnh phù hợp với từng nguy cơ cá nhân [2].

nsdd

Xem tiếp tại đây

Ứ mật trong gan thai kỳ

  • PDF.

Bs Huỳnh Minh Nhật - 

I. GIỚI THIỆU

Bệnh ứ mật trong gan thai kỳ (Intrahepatic cholestasis of pregnancy - ICP) là bệnh gan phổ biến nhất xảy ra trong thai kỳ. Bệnh được đặc trưng bởi ngứa và tăng nồng độ axit mật trong huyết thanh, thường phát triển trong tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ.

Các biểu hiện lâm sàng nhanh chóng biến mất sau khi sinh. Tuy nhiên, nguy cơ tái phát bệnh trong các lần mang thai tiếp theo rất cao. ICP là một vấn đề y tế nghiêm trọng vì có liên quan đến tăng nguy cơ biến chứng chu sinh gây ra cho thai nhi như tăng nguy cơ thai chết lưu, nước ối có lẫn phân su, sinh non và hội chứng suy hô hấp sơ sinh.

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh gồm tiền sử gia đình và bản thân mắc ICP, đa thai, nhiễm virus viêm gan C mãn tính, tuổi mẹ cao, sinh nhiều lần, dùng thuốc tránh thai và thụ tinh trong ống nghiệm.

II. NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được giải thích đầy đủ, được cho là do sự tương tác của ba nhóm yếu tố chính: di truyền, hormone và môi trường.

1. Yếu tố Di truyền

Các yếu tố di truyền đóng vai trò chính, liên quan đến các đột biến trong protein vận chuyển mật ở gan.

- Đột biến gen MDR3 (multidrug resistance protein 3) được coi là có vai trò chính trong cơ chế bệnh sinh của ICP. Đột biến này được quan sát thấy trong khoảng 16% các trường hợp ICP và có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là khi nồng độ axit mật toàn phần (TBA) vượt quá 40 µmol/L.

- Đột biến trong gen mã hóa protein BSEP (bile salt export pump) cũng góp phần vào sự phát triển của ICP. Các đột biến hiếm gặp trong gen FIC1 và FXR cũng đã được phát hiện..

umat

Xem tiếp tại đây

 
You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV