• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Gãy cổ xương sên

  • PDF.

Bs Hà Phước Mỹ - 

  • Xương sên là xương lớn thứ 2 trong các xương cổ chân, nhỏ hơn xương gót
  • Xương sên có 3 mặt khớp
  • 70% diện tích của xương sên là mặt khớp
  • Về mạch máu nuôi xương, được cấp máu bởi nhánh nuôi xương sên của động mạch mác, động mạch chày trước, đông mạch chày sau

xuongsen

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 30 Tháng 9 2022 13:40

Đại cương về bỏng

  • PDF.

Bs Lê Quang Hoàng Nhã - 

1. KHÁI NIỆM

- Bỏng là các tổn thương gây nên bởi sức nhiệt, hoá chất, điện năng, bức xạ.
- Đa số TH bỏng chỉ hạn chế ở da, số ít bỏng sâu tới các lớp dưới da: Cân, cơ, gân, xương, mạch máu, t/kinh và các tạng.
- Trong thời bình bỏng gặp trong lao động, sinh hoạt. Chiếm 1,8% đến 10% so với chấn thương ngoại khoa. Bỏng bị lẻ tẻ nhưng cũng có thể là tai nạn hàng loạt.
- Trong chiến tranh, bỏng 3-10% tổng số t/binh, nếu có vũ khí NBC: Tỷ lệ nạn nhân bỏng lên tới 70-80% tổng số nạn nhân.

2. NHỮNG TÁC NHÂN VÀ TÁC NHÂN GÂY BỎNG
2.1. Bỏng do sức nhiệt: Là loại gặp nhiều nhất, có hai loại:
2.1.1. Sức nhiệt khô: Lửa, Tia lửa điện, Kim loại nóng chảy.
2.1.2. Sức nhiệt ướt: Nước sôi, Thức ăn sôi nóng, Dầu mỡ sôi.(nhiệt độ 1800C), Hơi nước nóng từ 90-920C trở lên.
2.2. Bỏng do hoá chất :
2.2.1. Bỏng acid : Có 3 loại acid vô cơ mạnh thường gây bỏng là:
Acid sunfuric (H2SO4), Acid nitric (HNO3), Acid clohydric (HCL)
Có thể gặp bỏng do các acid hữu cơ: Acid phenic (phenol), Acid tricloraxetic
2.2.2. Bỏng base :
Các loại base đặc mạnh gây bỏng: NaOH, KOH, Ca(OH)2
Vôi đang tôi nóng là một loại bỏng vừa do sức nhiệt, vừa do độ base.

bongg

2.3. Bỏng do điện :
- Bỏng do luồng điện dẫn truyền qua cơ thể
- Điện năng biến thành nhiệt năng gây bỏng
2.4. Bỏng do các tia vật lý :
- Tia hồng ngoại, tử ngoại
- Tia X (tia Rơnghen)
- Tia phóng xạ (gama, bêta)

Xem tiếp tại đây

 

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 30 Tháng 9 2022 13:33

Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên

  • PDF.

Bs Nguyễn Đức Quang - 

GIỚI THIỆU

Hội chứng động mạch mạc treo tràng trên là một nguyên nhân bất thường hiếm gặp của tắc ruột cao. Nó được gọi bằng nhiều tên khác, bao gồm hội chứng Cast, hội chứng Wilkie, tắc nghẽn tá tràng do động mạch chủ-động mạch mạc treo tràng và tắc tá tràng mãn tính. Hội chứng này được đặc trưng bởi sự chèn ép của phần thứ ba của tá tràng (D3) do sự thu hẹp không gian giữa động mạch mạc treo tràng trên (ĐM MTTT) và động mạch chủ (ĐMC) và chủ yếu là do mất lớp đệm mỡ mạc treo giữa ĐMC và ĐM MTTT. Hội chứng này có liên quan đến sự mất cân nặng một cách nhanh chống không kiểm soát.

Căn bệnh này được Carl Von Rokitansky báo cáo lần đầu tiên vào năm 1842, và vào năm 1921, Wilkie đã trình bày chi tiết hơn về sinh lý bệnh và những phát hiện chẩn đoán của căn bệnh này với chuỗi 75 ca bệnh.

Cho đến nay, quản lí điều trị phẫu thuật vẫn là cách tiếp cận giúp điều trị triệt để hội chứng này. Trong khi đó việc điều trị bảo tồn thường không mang lại hiệu quả.

dmmttt

DỊCH TỂ

Trong khi tỷ lệ phổ biến chính xác của bệnh vẫn chưa được biết, tỷ lệ mắc bệnh được ước tính là 0,1% đến 0,3%. Hội chứng ĐM MTTT thường xảy ra ở thanh thiếu niên với độ tuổi chung từ 10 đến 39 tuổi nhưng cũng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Nó xảy ra phổ biến hơn ở nữ so với nam với tỷ lệ 3/2. Không có khuynh hướng dân tộc nào được mô tả, nhưng các trường hợp trong gia đình đã được báo cáo.

SINH LÍ BỆNH

Phần D3 tá tràng chạy ngang vắt qua cột sống và ĐMC bụng từ phải sang trái ngang mức thân đốt sống thắt lưng 3 (L3), ngay phía sau ĐM MTTT. Động mạch mạc treo tràng trên xuất phát từ mặt trước của động mạch chủ bụng ngang mức cột sống thắt lưng 1 (L1). Bình thường giữa 2 tổ chức này có lớp mỡ và mô bạch huyết làm đệm, giúp cho chúng tạo với nhau một góc 380 – 650, góc này liên quan đến chỉ số khối cơ thể (BMI), với khoảng cách 10-38mm.

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 29 Tháng 9 2022 13:19

Cập nhật một số khuyến cáo điều trị triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS) không do nguyên nhân thần kinh ở nữ giới theo EAU 2022

  • PDF.

Bs Lê Văn Thức - 

Thăm hỏi bệnh sử là cực kỳ quan trọng trong thăm khám bệnh nhân nữ bị triệu chứng đường tiểu dưới. Bao gồm tình trạng lưu trữ, đi tiểu, sau đi tiểu, tình dục, tiêu hóa, các nguyên nhân do thần kinh.

CAPNHAT LUTS

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 29 Tháng 9 2022 11:03

Tắc mạch phế quản điều trị ho ra máu

  • PDF.

Bs Nguyễn Quốc Thái - 

Lược dịch từ IR PlaybookA Comprehensive Introductionto Interventional Radiology 2018

Sinh lý bệnh

Thuyên tắc động mạch phế quản (BAE) là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu thường được sử dụng trong điều trị ho ra máu lượng nhiều hoặc một trường hợp ho ra máu xuất huyết nặng.

Mặc dù các định nghĩa chính xác có thể khác nhau, nhưng định nghĩa ho ra máu lượng nhiều phổ biến là ho ra máu có thể tích lớn hơn 250 cc trong 24 giờ, sau đó thường được định nghĩa là ba hoặc nhiều đợt ho ra máu, với thể tích lớn hơn 100 cc trong 24 giờ hơn 3 ngày trong 1 tuần . Ho ra máu ồ ạt có thể là một cấp cứu nguy hiểm đến tính mạng. Tiếp tục xuất huyết vào đường thở dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn và ngạt thở, bệnh nhân chết chìm trong máu của chính mình, có thể có tỷ lệ tử vong từ 50–85% nếu điều trị bảo tồn. Các quá trình bệnh lý ảnh hưởng đến đường thở và nhu mô phổi là những nguyên nhân cơ bản phổ biến nhất dẫn đến ho ra máu (Bảng1). Chúng bao gồm các bệnh viêm nhiễm, nhiễm trùng, ung thư và chấn thương. Nguyên nhân viêm, giãn phế quản thường gặp nhất liên quan đến ho ra máu lượng lớn có thể là kết quả từ nhiều loại bệnh bao gồm xơ nang, bệnh phổi mãn tính và bệnh sarcoidosis. Nhiễm trùng nhu mô phổi chẳng hạn như bệnh aspergillosis, bệnh lao và viêm phổi mãn tính cũng có thể dẫn đến ho ra máu lượng nhiều, cũng như một số rối loạn miễn dịch và thấp khớp.

horamauu1

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 29 Tháng 9 2022 09:18

You are here Đào tạo