• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Phục hồi chức năng sau gãy xương

  • PDF.

Bs Văn Thị Bích Phượng - 

I. ĐẠI CƯƠNG:

1. Định nghĩa:

Gãy xương là sự gián đoạn về cấu trúc giải phẫu bình thường của một xương.

2. Dịch tễ học:

Gãy xương là một tai nạn gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu.

Mỗi tuổi có 1 loại gãy xương hay gặp:

  • Trẻ em: hay gãy xương đòn, trên lồi cầu xương cánh tay, xương đùi,...      
  • Người lớn (trên 50 tuổi): hay gãy cổ xương đùi, đầu dưới xương cánh tay,...

Gãy xương gặp nhiều nhất ở tuổi lao động, tuổi hoạt động thể dục thể thao (khoảng 20-40 tuổi) và tỷ lệ nam nhiều hơn nữ.

3. Nguyên nhân và cơ chế gãy xương:

  • Do chấn thương là chủ yếu: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn do thể dục thể thao, tai nạn trong sinh hoạt,...
  • Gãy xương do bệnh lý (loại này hiếm gặp): do viêm xương, do u xương,...
  • Do bệnh bẩm sinh: khớp giả bẩm sinh.

phcn gay xuong

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 24 Tháng 9 2024 08:07

Bỏng và phục hồi chức năng bỏng

  • PDF.

Bs Văn Thị Bích Phượng - 

I. ĐẠI CƯƠNG:

Bỏng là một tai nạn mà tổn thương bỏng gây nên trên da (hoặc ở các tạng) do các tác nhân gây bỏng.

1. Giải phẫu và sinh lý da:

a. Giải phẫu da:

Da là cơ quan lớn nhất cơ thể. Da bao gồm 3 lớp:

  • Thượng bì (Epidermis): lớp ngoài cùng là các tế bào chết, bảo vệ và chống mất nước. Các lớp sâu hơn phân chia để tạo nên lớp sừng và chứa sắc tố để bảo vệ khỏi tia cực tím.
  • Bì (Dermis): gồm 2 lớp. Lớp này có các đầu tận cùng thần kinh, các mạch máu, các tuyến mồ hôi, bã nhờn, nang lông và các sợi cảm giác.
  • Mô dưới da: mô mỡ, các mạch máu lớn và dây thần kinh.

bong phcn

Xem tiếp tại đây

Chấn thương thận

  • PDF.

Bs. Nguyễn Hồng Ga – 

Chấn thương thận có thể gây tổn thương nhu mô hoặc mạch máu thận, có thể gây chảy máu hoặc tổn thương hệ thống ống góp với khả năng rò rỉ nước tiểu.

Chiếm 1-5% trong số tất cả trường hợp chấn thương. Trong chấn thương bụng kín, chấn thương thận chiếm khoảng 8-10%, trong khi đó ở chấn thương xuyên thấu, chấn thương thận chiếm khoảng 6%. 86% các trường hợp chấn thương thận thường có tổn thương kèm theo.

Bệnh nhân có chấn thương ở ngực, bụng và xương chậu có nguy cơ chấn thương thận cao hơn, nên cần chú ý ở những bệnh nhân này. Ngoài ra cần nhận ra những bệnh nhân có bất thường hay bệnh lý về thận từ trước như u thận, ứ nước, thận đa nang,… vì họ có khả năng bị chấn thương thận đáng kể dù chỉ bị chấn thương nhẹ.

Có thể nghi ngờ chấn thương thận dựa trên tiền sử và thăm khám lâm sàng ở bệnh nhân, nhưng cần giải quyết tình trạng cấp cứu đối với bệnh nhân huyết động không ổn định, nên tiến hành phẫu thuật trong phòng mổ, trong khi bệnh nhân huyết động ổn định có thể được chẩn đoán xác định thông qua các phương pháp hình ảnh.

Các tổn thương cơ bản: đụng giập, đường vỡ nhu mô thận, rách vỡ đường bài xuất, tổn thương mạch máu (bao gồm: đụng giập mạch máu trực tiếp, vết thương mạch máu hoàn toàn hay không hoàn toàn, các tổn thương nhu mô hay gây ra huyết khối làm tắc các mạch máu nhỏ), máu tụ, ngoài ra còn tổn thương các cơ quan khác kèm theo.

ctthan

Xem tiếp tại đây

Chuyển sản ruột- viêm teo dạ dày và nguy cơ ung thư dạ dày

  • PDF.

Bs Bùi Thị Bích Liễu - 

Nguy cơ tiến triển ung thư dạ dày: bệnh nhân viêm teo dạ dày kèm chuyển sản ruột có nguy cơ tiến triển ung thư cao hơn khi có các yếu tố sau đây:

  • Chuyển sản ruột không hoàn toàn.
  • Chuyển sản ruột tiến triển.
  • Tiền căn gia đình ( 3 thế hệ ung thư dạ dày).
  • Hút thuốc lá.
  • Lạm dụng rượu.

1. Tổn thương tiền ung thư dạ dày:

là những tổn thương có sự thay đổi về mặt mô học có thể diễn tiến sớm thành mô ung thư. Ba tổn thương được phân loại tiền ung thư: viêm teo niêm mạc dạ dày mạn tính, chuyển sản ruột dạ dày và nghịch sản, trong đó nghịch sản là tổn thương tiền ung thư trực tiếp.

Viêm teo dạ dày và chuyển sản ruột là 2 yếu tố nguy cơ độc lập của ung thư dạ dày. Một nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy tỷ lệ ung thư dạ dày sau 5 năm của viêm teo dạ dày nặng và chuyển sản ruột lần lượt từ 2-10% và 5,3-9,8%.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 22 Tháng 9 2024 20:14

Đọc thêm...

Tắc nghẽn đường ra dạ dày

  • PDF.

Ths. BSNT Nguyễn Xuân Lâm - 

1. ĐẠI CƯƠNG

Tắc nghẽn đường ra dạ dày (Gastric Outlet Obstruction) là tình trạng tắc nghẽn lưu thông thức ăn từ dạ dày xuống ruột non. Các tổn thương có thể nằm ở phần xa dạ dày (hang môn vị) hoặc phần gần tá tràng.

Tắc nghẽn đường ra dạ dày thường biểu hiện với các triệu chứng không điển hình  như đau bụng hoặc khó tiêu. Do đó, bệnh lý này thường khó phát hiện và thường chẩn đoán ở giai đoạn muộn.

Các nguyên nhân của tắc nghẽn đường ra dạ dày nhìn chung có thể chia ra thành 2 nhóm: lành tính và ác tính. Điều trị bao gồm: điều trị bảo tồn, can thiệp qua nội soi ống tiêu hóa hoặc ngoại khoa [1].

2. BỆNH HỌC

Tắc nghẽn cơ học

Tắc nghẽn cơ học nhìn chung được chia làm 2 nhóm: lành tính và ác tính.

Ung thư dạ dày và ung thư tụy là 2 nguyên nhân ác tính hay gặp nhất. Các nguyên nhân ác tính khác bao gồm: u lympho dạ dày, u tá tràng và bóng vater, u túi mật và đường mật, sarcoma sau phúc mạc, GIST [2].

Loét dạ dày và tá tràng là nguyên nhân tắc nghẽn đường ra dạ dày lành tính hay gặp nhất. Các nguyên nhân ít gặp khác bao gồm: hẹp miệng nối sau mổ, viêm tụy, nang giả tụy, hẹp liên quan NSAIDs, xoắn dạ dày [3].

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 20 Tháng 9 2024 10:53

Đọc thêm...

You are here Đào tạo