• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Y học thường thức

Điều trị kháng yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu ở mắt

  • PDF.

Bs Lê Văn Hiếu - 

Bác sĩ nhãn khoa của bạn có thể điều trị thoái hóa hoàng điểm thể ướt hoặc các bệnh khác của võng mạc bằng một loại thuốc có tên là anti-VEGF. Điều trị bằng Anti-VEGF giúp cải thiện thị lực ở khoảng một phần ba tổng số bệnh nhân dùng thuốc. Đối với đại đa số (hơn 90%), anti-VEGF ít nhất cũng ổn định thị lực.

Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu là gì?

Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) là một loại protein được sản xuất bởi các tế bào trong cơ thể. VEGF tạo ra các mạch máu mới khi cơ thể bạn cần.

Tại sao bạn muốn dừng hoạt động của VEGF?

Đôi khi các tế bào có thể tạo ra quá nhiều VEGF. Khi điều này xảy ra, các mạch máu bất thường có thể phát triển trong mắt của bạn. Những mạch máu bất thường này làm tổn thương võng mạc và gây giảm thị lực. Điều này có thể dẫn đến mù lòa.

Khi nào cần điều trị Anti-VEGF?

Thuốc Anti-VEGF ngăn chặn VEGF, làm chậm sự phát triển của các mạch máu trong mắt. Dẫn đến làm chậm hoặc ngừng tổn thương từ các mạch máu bất thường và làm chậm quá trình mất thị lực. Đôi khi thuốc có thể cải thiện thị lực.

Bác sĩ nhãn khoa sử dụng các loại thuốc chống VEGF để điều trị các bệnh lý về mắt sau:

  • Thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt
  • Phù hoàng điểm
  • Bệnh lý võng mạc tiểu đường
  • Tắc tĩnh mạch võng mạc

vegf1

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 16 Tháng 9 2020 11:26

So sánh giữa Ringer lactate với dung dịch NaCl 0,9% trong hồi sức nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng

  • PDF.

Bs Đinh Thị Vi - 

Đây là một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, đa trung tâm. Nghiên cứu chọn ngẫu nhiên những bệnh nhân vào khoa cấp cứu vì nhiễm trùng huyết hoặc sốc nhiễm trùng, trên 18 tuổi. Tiêu chí loại trừ là bệnh nhân có thai, đã được đặt nội khí quản trước khi vào viện hoặc được chuyển từ bệnh viện khác đến. Các bệnh nhân được chia một cách ngẫu nhiên vào hai nhóm, nhóm A điều trị bằng ringer lactate, nhóm B dùng dung dịch muối để hồi sức dịch nội mạch. Thước đo kết quả một là tử vong vì bất kỳ nguyên nhân nào, hai là cần phải thở máy và suy thận (creatinin máu tăng gấp hai lần hoặc cần phải RRT).

sosangri1

Kết quả là trong số 84 bệnh nhân, 35 bệnh nhân dùng ringer lactate và 49 bệnh nhân dùng dung dịch muối. Tiêu điểm của nhiễm trùng ở phổi là 39 bệnh nhân, ổ bụng là 9, tiết niệu là 10, mô mềm là 2, hệ thần kinh trung ương là 1, tim là 1 và 22 bệnh nhân không rõ tiêu điểm. Điểm SOFA trung bình là 6, MAP là 70 mmHg, lactate máu trung bình là 4,7 meq/l. Có 5 bệnh nhân cần thở máy, 32 bệnh nhân dùng thuốc vận mạch. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm về các đặc điểm lâm sàng chính kể trên. Có 8 trường hợp tử vong ở nhóm sử dụng ringer lactate, so với 28 trường hợp tử vong ở nhóm nước muối (27,6% so với 63%; P = 0,003). Không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm cần thở máy (4,5 ± 6,1 và 4,3 ± 5,7, tương ứng; P = 0,74) hoặc suy giảm chức năng thận.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 14 Tháng 9 2020 16:00

Tầm soát ung thư vú có yếu tố nguy cơ trung bình

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hà - 

I. Tổng quan

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Mỗi năm nước ta có khoảng hơn 15.230 phụ nữ mới mắc và hơn 6.100 người tử vong do ung thư vú.

Tầm soát ung thư vú là biện pháp giúp sớm phát hiện bệnh, tăng hiệu quả điều trị, giảm chi phí và thời gian.  Trong các yếu tố nguy cơ mắc bệnh, nổi bật là tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú, đặc biệt có từ 2 người mắc trở lên ở lứa tuổi trẻ. Người ta cũng tìm thấy sự liên quan giữa đột biến gen BRCA1 và BRCA2 với ung thư vú, ung thư buồng trứng và một số ung thư khác. Một số yếu tố khác bao gồm: có kinh lần đầu sớm, mãn kinh muộn, phụ nữ độc thân, không sinh con, không cho con bú, sinh con đầu lòng muộn. Béo phì, chế độ ăn giàu chất béo, sử dụng rượu cũng góp phần tăng nguy cơ bị bệnh. Viêm vú trong khi sinh đẻ và một số bệnh vú lành tính cũng là các yếu tố tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng tăng. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể xuất hiện ở những người rất trẻ.

Dưới 4% dân số nữ thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ ung thư vú trung bình dựa trên tiền sử gia đình của họ. 

soatvu

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 14 Tháng 9 2020 15:25

Xây dựng khoảng tham chiếu cho phòng xét nghiệm

  • PDF.

CN Trịnh Trần Thái - 

Định nghĩa và các thuật ngữ liên quan

  • Khoảng tham chiếu là khoảng của các giá trị từ giới hạn tham chiếu thấp hơn đến giới hạn tham chiếu trên. Một khoảng chuẩn thường được xác định là khoảng tập trung 95 %.
  • Giới hạn tham chiếu (reference limit): là giá trị có được từ kết quả phân bố tham chiếu, được sử dụng để đánh giá kết quả xét nghiệm cho đối tượng làm xét nghiệm. Giới hạn tham chiếu thường được mô tả là thấp hơn hoặc bằng của giá trị tham chiếu cao hay cao hơn hoặc bằng giá trị tham chiếu thấp.
  • Giá trị tham chiếu (reference values): là tất cả các giá trị thu được từ các kết quả xét nghiệm được đo lường hay quan sát các đối tượng tham chiếu.
  • Quần thể tham chiếu (reference population): Quần thể tham chiếu thường có nhiều người, không xác định số lượng nhưng chứa tất cả các đối tượng tham chiếu.
  • Cá thể tham chiếu: Một người được chọn để thử nghiệm trên cơ sở các tiêu chí được xác định rõ.

thamchieu

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 12 Tháng 9 2020 18:33

Tỷ lệ thai chết lưu tăng trong đại dịch COVID-19

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Theo một nghiên cứu so sánh về kết quả mang thai tại một bệnh viện ở London, tỷ lệ thai chết lưu đã tăng lên kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.

Asma Khalil, MD, và cộng sự Đại học St George's London và các đồng tác giả đã báo cáo trong JAMA  rằng sự gia tăng số thai chết lưu có thể là do các tác động gián tiếp như miễn cưỡng nhập viện khi cần thiết (ví dụ như cử động của thai nhi bị giảm), sợ nhiễm trùng hoặc không muốn thêm gánh nặng cho Dịch vụ Y tế Quốc gia" .

Để đánh giá thêm những thay đổi được báo cáo về tỷ lệ thai chết lưu và sinh non trong đại dịch, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu một nghiên cứu hồi cứu về kết quả mang thai tại Bệnh viện Đại học St George ở London. Họ so sánh hai giai đoạn: từ ngày 1 tháng 10 năm 2019 đến ngày 31 tháng 1 năm 2020 là giai đoạn trước COVID-19 và từ ngày 1 tháng 2 năm 2020 đến ngày 14 tháng 6 năm 2020 là thời kỳ đại dịch. Tuổi trung bình của bà mẹ khi sinh cả hai thời kỳ là 33 tuổi. Thời kỳ trước đại dịch có 1.681 ca sinh và thời kỳ đại dịch có 1.718 ca sinh.

Mặc dù có ít phụ nữ sinh con so và ít phụ nữ bị tăng huyết áp hơn trong thời kỳ đại dịch, tỷ lệ thai chết lưu trong thời kỳ này vẫn cao hơn đáng kể (n= 16 [9/1.000 ca sinh]) so với thời kỳ trước đại dịch (n= 4 [ 2/1.000 ca sinh]) (chênh lệch, 7/1.000 ca sinh; khoảng tin cậy 95%, 1,83-12,0; P = 0,01). Tỷ lệ đại dịch vẫn cao hơn khi loại trừ những trường hợp chấm dứt thai kỳ muộn do bất thường của thai nhi (chênh lệch 6/1.000 ca sinh; KTC 95% 1,54-10,1; P = 0,01).

thai covid

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 08 Tháng 9 2020 15:32

You are here Tin tức Y học thường thức