• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Rối loạn lipid máu - Hội Tim mạch Châu Âu 2025: có gì mới?

  • PDF.

Bs Nguyễn Lương Quang - 

Vừa qua Hội Tim mạch Châu Âu và Hiệp hội Xơ vữa Châu Âu (ESC/EAS) đã công bố bản cập nhật hướng dẫn 2025 trên cơ sở những chứng cứ mới xuất hiện kể từ hướng dẫn 2019 đến tháng 03/2025. Mục tiêu của bản cập nhật là tập trung vào đánh giá nguy cơ và điều trị để giảm gánh nặng bệnh tim mạch do rối loạn lipid máu. 

Những điểm mới trong bản cập nhật này so với hướng dẫn 2019:

1. Đánh giá nguy cơ tim mạch

Khuyến cáo sử dụng bộ công cụ SCORE2 cho người <70 tuổi và SCORE2-OP cho người ≥70 tuổi để ước tính nguy cơ 10 năm. Điều này giúp phân loại chính xác hơn theo vùng địa lý và tuổi, làm cơ sở cho quyết định điều trị dự phòng. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ bổ sung (risk modifiers) như sự hiện diện của xơ vữa mạch vành tiềm ẩn qua hình ảnh (imaging), điểm canxi mạch vành (CAC score) được đề nghị xem xét trong trường hợp nguy cơ trung bình hoặc khi ở sát ngưỡng quyết định điều trị.

2. Mục tiêu LDL‑C và điều trị ban đầu trong dự phòng sơ cấp

Giữ nguyên mục tiêu trong kiểm soát LDL-C ở các nhóm; không giảm thêm nhưng bổ sung liệu pháp mới để đạt được mục tiêu dễ hơn hơn nếu statin đơn trị không đủ.

Ngưỡng LDL-C được điều chỉnh trong dự phòng sơ cấp, điều trị hạ LDL-C bằng thuốc được khuyến nghị cho người ở nguy cơ rất cao nếu LDL-C ≥1.8 mmol/L (≥70 mg/dL) và cho người cao nguy cơ nếu LDL-C ≥2.6 mmol/L (≥100 mg/dL) sau khi tối ưu hóa thay đổi lối sống. Ngoài ra, các mức “cân nhắc điều trị” được mở rộng với các ngưỡng thấp hơn (ví dụ: xem xét điều trị nếu rất cao nguy cơ và LDL-C 1.4–<1.8 mmol/L).

LIPID2025

Xem tiếp tại đây

Cường giáp và thai nghén

  • PDF.

BS Nguyễn Thị Kiều Trinh - 

Giới thiệu

Cường giáp là một tình trạng hiếm gặp, gây biến chứng cho khoảng 0,1% đến 0,4% thai kỳ.Tình trạng này được biểu hiện bằng sự gia tăng nồng độ hormone tuyến giáp lưu hành, T4 và T3, cũng như giảm nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH), còn được gọi là thyrotropin. Mặc dù tương đối hiếm gặp, việc xác định và điều trị cường giáp rõ ràng rất quan trọng để giảm thiểu các biến chứng cho mẹ và thai nhi. Lý tưởng nhất là cường giáp được chẩn đoán trước khi thụ thai và bắt đầu điều trị để đạt được trạng thái bình giáp. Tuy nhiên, có tới một nửa số thai kỳ ở Hoa Kỳ là ngoài ý muốn, khiến việc chẩn đoán sớm rối loạn chức năng tuyến giáp là vô cùng cấp thiết. Bài tổng quan này đề cập đến nguyên nhân, dịch tễ học, sinh lý bệnh và đánh giá ban đầu về cường giáp trong thai kỳ, sau đó là thảo luận về điều trị, quản lý và các biến chứng.

cuongiapTN

Nguyên nhân

Cường giáp trong thai kỳ cần điều trị thường do bệnh Grave gây ra, ước tính chiếm 85% đến 95% các trường hợp cường giáp có ý nghĩa lâm sàng.Tình trạng tự miễn dịch này được đánh dấu bằng sự hiện diện của kháng thể thụ thể thyrotropin-receptor antibodies (TRAb), có thể liên kết với các thụ thể tuyến giáp và gây ra sự hoạt hóa của chúng, dẫn đến tăng sản xuất hormone tuyến giáp.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 18 Tháng 9 2025 11:46

Đánh giá chức năng gan trước phẫu thuật cắt gan do ung thư: từ Child–Pugh, MELD, ALBI đến ICG và CT Volumetry

  • PDF.

Bs. Trần Phúc Huy - 

A.MỞ ĐẦU

Suy gan sau phẫu thuật cắt gan (post-hepatectomy liver failure – PHLF) là một biến chứng nặng, đe dọa mạng sống bệnh nhân. Tỷ lệ suy gan sau phẫu thuật theo Shoup và cộng sự là khoảng 12%[1], lên đến 18% theo nghiên cứu của Xue-Qin Meng và cộng sự năm 2023[2]. Đa số phẫu thuật cắt gan tại Việt Nam là để điều trị ung thư tế bào gan, thường xuất hiện trên nền tổn thương gan mạn tính hoặc gan xơ. Phẫu thuật viên phải luôn cân nhắc giữa việc phẫu thuật cắt gan một cách triệt để về mặt ung thư học và bảo tồn chức năng gan. Vì vậy, việc đánh giá chức năng gan trước phẫu thuật để tiên lượng và ngăn ngừa biến chứng suy gan sau phẫu thuật hết sức quan trọng vì biến chứng này tuy tỉ lệ không cao[1], nhưng tỉ lệ tử vong rất cao, có thể lên đến 80-100%[3].

Để đánh giá chức năng gan trước mổ cắt gan (preoperative liver function assessment), y văn quốc tế và thực hành tại các trung tâm lớn hiện nay sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Có thể chia thành các nhóm chính sau:

  • Đánh giá lâm sàng – sinh hóa như thang điểm Child–Pugh, thang điểm MELD, thang điểm ALBI
  • Test động học: Indocyanine Green (ICG)
  • Đánh giá thể tích gan: CT volumetry

CHILD

Xem tiếp tại đây

Siêu âm đàn hồi mô – Kỹ thuật và ứng dụng

  • PDF.

Ths. BSNT. Trần Văn Quốc Việt

Xuất phát từ ý tưởng khi thăm khám lâm sàng sẽ có động tác sờ: sờ nắn đánh giá độ cứng của cơ quan, tổn thương. Tuy nhiên đối với các tạng nằm sâu dưới bề mặt hoặc các cấu trúc gân cơ khó đánh giá bằng sờ nắn thì siêu âm đàn hồi tỏ ra hữu ích.

Về nguyên lý, siêu âm đàn hồi nhằm đánh giá độ cứng của mô/tổn thương. Đánh giá độ cứng dựa vào mức độ đàn hồi của của mô/tổn thương. Hai phương pháp siêu âm đàn hồi hay được sử dụng gồm đàn hồi nén và đàn hồi sóng biến dạng.

danhoimo 

Hình A mô tả siêu âm đàn hồi nén, kỹ thuật viên nén thủ công bằng tay tạo lực đàn hồi lên vị trí cần đánh giá. Tín hiệu phản hồi cho biết độ cứng của mô/tổn thương. Càng cứng càng ít bị biến dạng. Vì vậy làm ở các mô/tổn thương nằm nông.

Hình B mô tả siêu âm đàn hồi sóng biến dạng, ở chế độ này, không cần tạo lực nén, sóng âm được hội tụ và lan truyền để đánh giá độ biến dạng của mô, gọi là sóng biến dạng. Vì vậy làm ở các mô/tổn thương nằm sâu.

Đối với gan, sử dụng siêu âm đàn hồi sóng biến dạng. Khi thực hiện cần bệnh nhân nín thở. Đặt các ROI ở HPT V, VII, VIII, tránh các mạch máu lớn, ROI nằm cách bề mặt gan 2-3 cm. Siêu âm nhằm đánh giá nền gan, không đánh giá u gan. Vì theo nguyên lý, càng cứng càng ít biến dạng. Nhưng các khối u ác tính không phải khi nào cũng cứng và u lành tính không phải luôn mềm. Kết quả dưới dạng định lượng.

Xem tiếp tại đây

Xét nghiệm máu dị ứng

  • PDF.

CN. Thái Thị Kim Ngân - 

Xét nghiệm máu dị ứng là gì?

Xét nghiệm máu dị ứng đo lượng kháng thể gây dị ứng gọi là immunoglobulin E (IgE). Kháng thể là các protein mà hệ miễn dịch tạo ra để chống lại các tác nhân lạ, chẳng hạn như vi-rút và vi khuẩn. Tuy nhiên, hệ miễn dịch cũng có thể sản xuất chúng để đáp ứng với các tác nhân gây dị ứng. Đây là những chất vô hại, chẳng hạn như phấn hoa và đậu phộng, nhưng có thể gây ra phản ứng dị ứng ở một số người.

Việc có một lượng nhỏ IgE trong máu là bình thường. Tuy nhiên, khi bạn bị phản ứng dị ứng, hệ miễn dịch sẽ coi các chất gây dị ứng là mối đe dọa và tạo ra kháng thể IgE. Điều này làm tăng lượng IgE trong máu và gây ra các triệu chứng dị ứng.

Các chất gây dị ứng phổ biến bao gồm:

  • Phấn hoa
  • Bụi
  • Khuôn
  • Vảy da động vật
  • Một số loại thực phẩm, bao gồm các loại hạt và động vật có vỏ
  • Một số loại thuốc, chẳng hạn như penicillin

Các triệu chứng dị ứng có thể từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào loại dị ứng bạn mắc phải. Chúng có thể bao gồm từ ngứa và hắt hơi đến hen suyễn hoặc thậm chí là tình trạng đe dọa tính mạng gọi là sốc phản vệ .

mau1

Xem tiếp tại đây

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV