Bs Lê Văn Thành -

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 03 Tháng 10 2024 16:43
Bs Trần Thanh Tịnh -
I. Đại cương
1. Định nghĩa:
Áp xe não được định nghĩa là những ổ nhiễm khuẩn khu trú trong nhu mô não do nhiều tác nhân gây nên. Thường gặp nhất là do vi khuẩn, ít gặp hơn như nấm, ký sinh vật. Áp xe não chiếm 8% tổng số khối choán chỗ trong sọ, đây là một trong số ít bệnh lý choán chỗ trong sọ có thể chữa khỏi hoàn toàn. Chẩn đoán và điều trị áp xe não đã có nhiều sự tiến bộ trong những năm qua nhờ sự áp dụng các kỹ thuật hiện đại như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, cộng hưởng từ khuếch tán, định vị, neuronavigation và kháng sinh hiệu quả. Áp xe não chủ yếu được điều trị khỏi bằng phẫu thuật, nhất là phẫu thuật chọc hút. Điều trị nội được sử dụng khi áp xe còn nhỏ hay điều trị nội sau khi phẫu thuật.
2. Tác nhân gây bệnh:
Vi khuẩn gây áp xe não có thể là vi khuẩn ái khí hay kỵ khí. Trước thời kỷ 1980, phần lớn các tác giả cho rằng áp xe não chủ yếu do vi khuẩn ái khí nhưng ngày nay, tỷ lệ vi khuẩn kỵ khí gây áp xe não cao ngang bằng với vi khuẩn ái khí. Nhiều nghiên cứu cho thấy vi khuẩn kỵ khí được phân lập ở 40%-80% bệnh phẩm mủ áp xe não. Theo hầu hết các nghiên cứu, liên cầu chiếm (30%-45%), sau đó là tụ cầu (25%-30%), ít gặp hơn là E.coli, Proteus, Enterobacter... Vi khuẩn kỵ khí hay gặp nhất là liên cầu kỵ khí (Peptostreptococcus), Bacteroides....

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 03 Tháng 10 2024 16:45
Bs Nguyễn Trung Hiếu -
KHÁI QUÁT:
Trật khớp Atlantooccipital (AOD) là do phá vỡ sự ổn định của khớp nối cổ và xương sọ (thường là kết quả của chấn thương dây chằng)
Bệnh nhân thường bị thiếu hụt thần kinh tối thiểu hoặc biểu hiện rối loạn hành tủy cổ.
Phân loại:
Có thể có phối hợp

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 03 Tháng 10 2024 16:39
Bs Nguyễn Ngọc Võ Khoa -
- Cắt polyp đại trực tràng qua nội soi làm giảm tỷ lệ mắc (incidence) và tử vong (mortality) do ung thư đại trực tràng (colorectal cancer) và được coi là một kỹ năng thiết yếu đối với tất cả bác sĩ nội soi. Có nhiều kỹ thuật và thiết bị cắt polyp khác nhau, việc sử dụng chúng thường phụ thuộc vào sự lựa chọn của bác sĩ nội soi và sự có sẵn tại chỗ. Guideline này là bản cập nhật của Hướng dẫn cắt polyp đại trực tràng Hội Nội soi Tiêu hóa Châu Âu (ESGE) năm 2017.
- Guideline này không đề cập đến việc quản lý các thuốc chống đông và các thuốc khác trước và sau thủ thuật, cũng như giám sát sau cắt polyp, vì những vấn đề này đã được đề cập trong Guideline riêng biệt.

Bs. Hồ Huy Hùng -
1. Giới thiệu:
Bất kỳ ung thư nào cũng có thể di căn vào xương, nhưng thường gặp nhất là ung thư biểu mô, đặc biệt là những ung thư của các cơ quan như vú, phổi, tuyến tiền liệt, thận, tuyến giáp và ung thư đại tràng.
2. Triệu chứng của ung thư di căn xương
Di căn xương thường được biểu hiện bằng đau xương, mặc dù đôi khi có thể không có triệu chứng. Di căn xương có thể gây ra các triệu chứng trước khi chẩn đoán ung thư hoặc xuất hiện ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư trước đó.
3. Chẩn đoán ung thư di căn xương
Ung thư di căn xương cần được nghi ngờ ở tất cả các bệnh nhân đau xương mà không rõ nguyên nhân, đặc biệt là những bệnh nhân có ung thư đã được chẩn đoán và đau xương hoặc có dấu bất thường trên chẩn đoán hình ảnh nghi ngờ di căn xương. Tổn thương xương do di căn từ ung thư tuyến tiền liệt thường có hình ảnh đặc xương, ung thư phổi thường là các tổn thương tiêu xương, ung thư vú có thể là tổn thương đặc xương hoặc tiêu xương.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 01 Tháng 10 2024 17:16