• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Chống đông ở bệnh nhân đang chạy ECMO

  • PDF.

Bs Huỳnh Ngọc Long Vũ - ICU

ECMO (Extracorporeal Membrane Oxygenation) là kỹ thuật oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể, hoạt động như tim phổi nhân tạo tạm thời để hỗ trợ bệnh nhân suy hô hấp nặng hoặc suy tim cấp không đáp ứng với các biện pháp thông thường. Phương pháp này lấy máu từ cơ thể qua ống thông tĩnh mạch, trao đổi oxy/CO2 qua màng ngoài, rồi bơm máu giàu oxy trở lại.

Máu được dẫn ra ngoài cơ thể sẽ tiếp xúc với một diện tích lớn các màng vật liệu không phải nội mô nên sẽ kích hoạt mạnh mẽ dòng thác đông máu, tiêu thụ lượng lớn các yếu tố đông máu và tiểu cầu dẫn đến tình trạng huyết khối, dễ chảy máu, cũng như giảm tuổi thọ màng.

Vì vậy việc sử dụng liệu pháp chống đông gần như là bắt buộc ở những bệnh nhân ECMO.

1. Đông cầm máu ở bệnh nhân ECMO

Quá trình hình thành huyết khối trên màng ECMO

Con đường đông máu nội sinh đóng vai trò chủ yếu trong quá trình này. Bước đầu tiên là sự hấp phụ protein lên bề mặt vật liệu ECMO. Fibrinogen là một trong những protein đầu tiên được hấp phụ trên bề mặt. Ngay sau đó, các protein khác như fibronectin và yếu tố von Willebrand (vWF) (được kích hoạt bởi ứng suất cắt cao và kiểu dòng chảy bất thường trong ECMO) được hấp phụ lên bề mặt vật liệu sinh học. Tiếp theo, fibrinogen được thay thế bằng yếu tố XII, kininogen trọng lượng phân tử cao, prekallikrein và yếu tố XI, có ái lực cao hơn với bề mặt vật liệu sinh học. FXII liên kết với bề mặt vật liệu sinh học này, trải qua những thay đổi về cấu trúc để trở nên tự hoạt hóa, kích hoạt sự tạo ra thrombin thông qua con đường đông máu nội sinh. Ngoài ra, con đường cổ điển và con đường thay thế của hệ thống bổ thể cũng được kích hoạt. Khi hệ thống bổ thể được kích hoạt, nó khuếch đại sự tạo ra thrombin và đóng vai trò là chất thu hút và kích hoạt bạch cầu mạnh mẽ.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 02 Tháng 3 2026 10:07

Sử dụng thuốc chống đông chu phẫu trong thực hành lâm sàng

  • PDF.

BS. Nguyễn Lương Quang - 

1. Giới thiệu

Thuốc chống đông đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), thuyên tắc phổi (PE), rung nhĩ, thay van tim và các tình trạng có nguy cơ huyết khối cao. Trong giai đoạn chu phẫu, việc duy trì cân bằng giữa nguy cơ chảy máuhuyết khối là thách thức lớn, đòi hỏi bác sĩ phải đánh giá chính xác nguy cơ, hiểu rõ đặc tính từng thuốc và áp dụng phác đồ phù hợp.

Quản lý chống đông chu phẫu không chỉ giúp giảm biến chứng mà còn cải thiện kết cục bệnh nhân, đặc biệt ở phẫu thuật tim mạch, chỉnh hình, tiêu hóa, niệu khoa và can thiệp ít xâm lấn.

2. Phân loại thuốc chống đông thường gặp

2.1. Thuốc kháng vitamin K (VKA)

KVK là thuốc phổ biến nhất. Tác dụng dựa trên ức chế tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K (II, VII, IX, X).

Ưu điểm: kiểm soát bằng INR, có thuốc đảo ngược (vitamin K, PCC).

Nhược điểm: thời gian bán hủy dài (36–42 giờ), nhiều tương tác thuốc-thực phẩm.

2.2. Heparin không phân đoạn (UFH)

Tác dụng nhanh, thời gian bán hủy ngắn (1–2 giờ), dễ kiểm soát bằng aPTT.

Thích hợp cho bệnh nhân nguy cơ chảy máu cao hoặc cần thủ thuật cấp cứu.

2.3. Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH)

Ví dụ: Enoxaparin, Dalteparin…

Dễ dùng, dự đoán được dược động học.

Không cần theo dõi thường quy trừ bệnh nhân suy thận, béo phì hoặc thai kỳ.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 02 Tháng 3 2026 09:51

Dinh dưỡng cá nhân hóa trong bệnh thận mạn tính

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Hải - 

Một cách tiếp cận cá thể hóa đối với dinh dưỡng ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính (CKD) đại diện cho một sự thay đổi mô hình đầy hứa hẹn trong quản lý bệnh, vượt ra ngoài các khuyến nghị chế độ ăn uống truyền thống "một kích cỡ phù hợp với tất cả". Bệnh nhân CKD thường có các bệnh đi kèm khác và đối mặt với những thách thức dinh dưỡng đặc thù, bao gồm suy mòn protein-năng lượng (PEW), thiểu cơ, và suy giảm bài tiết chất dinh dưỡng qua thận, điều này làm phức tạp việc lập kế hoạch ăn uống. Các hướng dẫn hiện tại chủ yếu tập trung vào việc hạn chế chất dinh dưỡng - chẳng hạn như hạn chế protein, natri, kali và phốt pho. Tuy nhiên, những khuyến nghị chung chung này thường dẫn đến kết quả và sự tuân thủ dưới mức tối ưu. Dinh dưỡng cá thể hóa, điều chỉnh các khuyến nghị về chế độ ăn uống phù hợp với các đặc điểm cá nhân, như kiểu gen, kiểu hình và sở thích văn hóa xã hội, đã đạt được sự chú ý trong nhiều bệnh mạn tính khác nhau.

Tổng quan:

Tỷ lệ mắc và hiện mắc bệnh thận mạn tính (CKD) trên toàn cầu đang gia tăng song song với tỷ lệ béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa ngày càng tăng. Tất cả các tình trạng này đều có nhiều yếu tố nguy cơ chung liên quan đến chế độ ăn uống và lối sống, chẳng hạn như lượng calo dư thừa, tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến, hoạt động thể chất không đầy đủ và hút thuốc. Người ta ước tính rằng khoảng 11 triệu ca tử vong trên toàn cầu và khoảng một nửa số ca tử vong do bệnh tim mạch chuyển hóa ở Hoa Kỳ có thể là do chế độ ăn uống kém. Với nhận thức ngày càng tăng về vai trò trung tâm của chế độ ăn uống trong sự phát triển của các bệnh mạn tính này, ngày càng có nhiều sự tập trung vào "thực phẩm là thuốc". Khái niệm dinh dưỡng cá thể hóa, điều chỉnh các khuyến nghị về chế độ ăn uống phù hợp với các đặc điểm cá nhân, bao gồm kiểu gen, kiểu hình và các yếu tố văn hóa xã hội, thừa nhận rằng phản ứng của mỗi cá nhân đối với dinh dưỡng có thể khác nhau đáng kể.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 25 Tháng 2 2026 20:50

Gãy xương hở

  • PDF.

Bs Võ Phước Đức - 

I.ĐẠI CƯƠNG:

1.1.Định nghĩa: Gãy xương hở là gãy xương mà ổ gãy thông với môi trường bên ngoài do mô mềm và da bên trên bị tổn thương

1.2. Dịch tễ:

- Gãy xương hở chiếm 3 % trong tất cả các gãy xương chi thể

- Trong tất cả gãy xương hở thì tần suất gãy hở xương chày là thường gặp nhất

GXH

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 23 Tháng 2 2026 15:22

Dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư

  • PDF.

BSCK2. TRẦN QUỐC CHIẾN - TT UNG BƯỚU

1. ĐẠI CƯƠNG

Ung thư là một bệnh lý mạn tính, không chỉ ảnh hưởng đến cơ quan bị bệnh mà còn có khả năng di căn, gây ra nhiều biến chứng và tác động tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh. Mối liên hệ giữa ung thư và dinh dưỡng là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ: ung thư làm suy giảm tình trạng dinh dưỡng, đồng thời, tình trạng dinh dưỡng kém lại ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị, cách thức điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đáng chú ý, có đến 20% bệnh nhân ung thư tử vong do hậu quả của suy dinh dưỡng hơn là do chính khối u [3].

Can thiệp dinh dưỡng sớm giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng, duy trì cân nặng và khối nạc cơ thể, tăng cường đáp ứng với điều trị và nâng cao chất lượng sống. Hướng dẫn thực hành của ESPEN (2021) nhấn mạnh: "Các vấn đề dinh dưỡng cần được xem xét ngay từ thời điểm chẩn đoán ung thư và cần được tiến hành song song với các phương pháp điều trị chống ung thư" [2]. Do đó, dinh dưỡng đóng vai trò then chốt trong chăm sóc và điều trị ung thư từ khi chẩn đoán cho đến suốt cuộc đời.

2. SUY DINH DƯỠNG VÀ SUY MÒN TRONG UNG THƯ

2.1. Sinh lý bệnh và định nghĩa

Khi xuất hiện tế bào ung thư, cơ thể phản ứng bằng cách tăng sản xuất các yếu tố dị hóa, dẫn đến phân hủy khối cơ và mỡ, đồng thời gây mất cảm giác thèm ăn và rối loạn chuyển hóa. Khối u còn làm tăng tiêu hao năng lượng ngay cả khi nghỉ ngơi. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến suy mòn trong ung thư.

Suy dinh dưỡng được định nghĩa là tình trạng mất cân bằng năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác, gây ảnh hưởng đến mô và cơ thể. Trong ung thư, suy dinh dưỡng có thể do bệnh lý hoặc do tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị.

Suy mòn ung thư là hội chứng mất khối cơ xương liên tục, không thể phục hồi hoàn toàn bằng hỗ trợ dinh dưỡng thông thường, diễn tiến đến suy chức năng. Tỷ lệ suy mòn dao động từ 8% đến 84% tùy loại ung thư, cao nhất ở ung thư đường tiêu hóa (80%) và ung thư đầu cổ (70%) [3].

ddK

Xem tiếp tại đây

 
You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV