• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo nhân viên BV

Cập nhật khuyến cáo ESC/EACTS 2025 về bệnh lý van tim

  • PDF.

BS. Nguyễn Thị Nga - 

TỔNG QUAN

Bệnh lý van tim (Valvular Heart Disease – VHD) là nhóm bệnh của van tim, có thể là tăng gánh áp lực (stenosis), tăng gánh thể tích (regurgitation), hoặc kết hợp; bệnh nhân có thể không triệu chứng trong thời gian dài, nhưng khi van tổn thương nặng, hậu quả lên buồng thất, buồng nhĩ, huyết động có thể dẫn đến suy tim, tử vong cao nếu xử lý muộn.

Cập nhật khuyến cáo ESC/EACTS 2025 dựa trên nhiều nghiên cứu mới, tiến bộ của thiết bị và can thiệp qua da, tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh, cũng như quan điểm lựa chọn của bệnh nhân. Mục đích của lần cập nhật này: chẩn đoán, lựa chọn thời điểm điều trị, kỹ thuật can thiệp và xử lý các ca đặc biệt (đa van, van hỗn hợp, bệnh nhân cao tuổi, ung thư,…). Nhiều điều mới so với 2021, nhằm khắc phục việc bệnh nhân được điều trị muộn hoặc không được điều trị mặc dù có chỉ định, sử dụng công nghệ mới, mở rộng nhóm được hưởng lợi từ các phương pháp ít xâm lấn.

Xem tiếp tại đây

Hiểu về đám rối cổ: Giải phẫu, các kỹ thuật phong bế, và ý nghĩa lâm sàng

  • PDF.

Bs Thủy Ngọc Chương - 

Phong bế đám rối cổ được chỉ định trong phẫu thuật cắt nội mạc động mạch cảnh (carotid endarterectomy), các thủ thuật nông vùng cổ, và giảm đau gãy xương đòn. Kỹ thuật này nhắm vào đám rối cổ, được tạo thành từ các nhánh trước của các dây thần kinh sống cổ C1–C4. Mục tiêu là phân bố thuốc tê quanh các nhánh nông của đám rối, tạo ra tê cảm giác ở vùng cổ trước – bên, sau tai, và vùng da phía trên và dưới xương đòn.

Đám rối cổ là một mạng lưới thần kinh quan trọng, đóng vai trò thiết yếu trong chức năng cảm giác và vận động của vùng cổ và một phần thân trên. Tầm quan trọng của nó trong ứng dụng lâm sàng, đặc biệt trong gây tê vùng, là không thể phủ nhận. Bài báo của Jarvis và cộng sự, 2023 đã nghiên cứu về giải phẫu đám rối cổ, các kỹ thuật phong bế thần kinh, những biến chứng tiềm ẩn và chỉ định lâm sàng.

phongbe

Xem tiếp tại đây

Cập nhật chẩn đoán và điều trị phình động mạch chủ

  • PDF.

BS. Bùi Thị Thảo My

1. Các khái niệm chung

Phình động mạch được định nghĩa là đường kính lớn hơn >1,5 lần (>50%) so với đường kính dự đoán. Phình động mạch chủ ngực (TAA) phổ biến ở nam giới hơn ở nữ giới (tỷ lệ 4:1); tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng ở phụ nữ cao hơn (0,96 ± 1,00 mm mỗi năm) so với nam giới (0,45 ± 0,58 mm mỗi năm).

Phân loại theo vị trí: động mạch chủ ngực (đoạn gốc, đoạn lên, cung, đoạn xuống), động mạch chủ bụng.

Phân biệt phình động mạch chủ ổn định với phình động mạch chủ có biến chứng; phình động mạch chủ liên quan di truyền/hội chứng mô liên kết; phình động mạch chủ + van hai lá hoặc van động mạch chủ bất thường.

fdmc

Xem tại đây

 

Cập nhật ARDS

  • PDF.

BS Dương Văn Truyền - 

Chương 1. HỒI SỨC TỔN THƯƠNG PHỔI CẤP (ALI)

1. MỞ ĐẦU

Ngừng tim là một thách thức rất lớn đối với sức khỏe toàn cầu, hiện được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba trên toàn thế giới [1]. Nghiên cứu gần đây của EuReCa TWO đã báo cáo tỷ lệ ngừng tim ngoài bệnh viện (out-of-hospital cardiac arrest - OHCA) ở Châu Âu là 89 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm. Mặc dù tần suất OHCA cao, nhưng kết quả thường vẫn ảm đạm, chỉ có khoảng 1/3 số bệnh nhân đạt được tuần hoàn tự nhiên trở lại (return of spontaneous circulation - ROSC), và tỷ lệ sống sót ngày càng giảm, chỉ 8% số người được xuất viện còn sống [2].

Hồi sức tim phổi (cardiopulmonary resuscitation - CPR) là một thủ tục cấp cứu nhằm mục đích khôi phục lưu lượng máu được cung cấp oxy đến não và tim trong quá trình ngừng tim. Tuy nhiên, sự can thiệp thiết yếu này không phải là không có những hạn chế đáng kể. Thật vậy, các quy trình hồi sức thường tạo ra nhiều loại tổn thương do thầy thuốc gây ra cho những người được hồi sức [3]. Những chấn thương này rất phổ biến, hầu hết mọi bệnh nhân trải qua CPR đều gặp phải một số dạng tổn thương, từ các vấn đề tương đối nhỏ, chẳng hạn như vết bầm tím hoặc trầy xước da đơn giản, đến các biến chứng nghiêm trọng hơn và đáng lo ngại như gãy xương ngực và chấn thương nội tạng [4]. Trong khi loại thứ nhất phổ biến hơn và có xu hướng có tác động lâm sàng hạn chế thì loại thứ hai, đặc biệt là tổn thương cơ quan nghiêm trọng, có thể gây ra các tình trạng đe dọa tính mạng và có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả của bệnh nhân [5-12].

Xem tiếp tại đây

Thuốc tê (tt)

  • PDF.

Bs Phạm  Văn Thịnh - 

DƯỢC LÂM SÀNG

Dược động

Trong gây tê vùng, các thuốc tê thường được tiêm gần với vị trí cần phong bế; do đó tính chất dược động trong máu là một yếu tố quan trọng quyết định sự đào thải và độc tính và ít ảnh hưởng đến thời gian tác dụng mong muốn trên lâm sàng.

Hấp thu

Sự hấp thu thuốc sau một liều tê trên bề mặt phụ thuộc vào vị trí cho thuốc. Đa số màng tế bào niêm mạc (ví dụ khí quản hoặc niêm mạng miệng hầu) có hàng rào mỏng manh đối với thuốc tê, dẫn đến thời gian khởi phát nhanh. Trái lại, đối với vùng da lành, cần phải dùng thuốc tê tan trong mỡ với nồng độ base cao để đảm bảo thuốc thấm qua được và cho tác dụng giảm đau. Kem EMLATM (Eutectic Mixture of Local Anesthetics) được bào chế để vượt qua rào cản hấp thu của da. Thuốc này chứa hỗn hợp base lidocaine và prilocaine dưới dạng nhũ tương. Độ sâu giảm đau (thường < 0.5 cm), thời gian tác dụng (thường < 2h), và lượng thuốc hấp thu tùy thuộc vào thời gian cho thuốc, lưu lượng máu qua da, và tổng liều. Thường sử dụng 1 – 2 g kem cho mỗi 10 cm2 da. Cần phải băng kín và chờ khoảng 1h để đạt đủ mức độ giảm đau bề mặt cho thủ thuật đặt catheter tĩnh mạch. Không nên sử dụng kem EMLA trên các vùng niêm mạc, da xây xát, trẻ < 1 tháng tuổi, hoặc bệnh nhân có chống chỉ định với lidocaine hoặc prilocaine.

Xem tiếp tại đây

You are here Tổ chức Đào tạo nhân viên BV