Bs Nguyễn Đức Quang -

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 27 Tháng 7 2022 16:23
Bs Phạm Văn Thịnh -
Nội dung chính:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 26 Tháng 7 2022 10:58
Bs Lương Thành Vi -
TỔNG QUAN
Giải phẫu học của cơ thể người về các cơ quan trong cơ thể không thay đổi, tuy nhiên những tiến bộ của việc áp dụng khoa học công nghệ, cải tiến các phương pháp phẫu thuật tối ưu nhất, ít xâm lấn, đào tạo tay nghề phẫu thuật viên ngày một hoàn thiện, đường cong huấn luyện bài bản, quản lí các biến chứng liên quan đến phẫu thuật ngày một chặt chẽ, nên tỷ lệ xảy ra các biến chứng trong phẫu thuật ngày một hạn chế, đặc biệt là những tai biến nghiêm trọng đe doạ tính mạng của người bệnh.
Trong phẫu thuật nội soi, tỷ lệ các biến chứng nghiêm trọng liên quan đến quá trình phẫu thuật nói chung là thấp. Trong đó hơn một nửa số ca biến chứng xảy ra khi tiếp cận ổ bụng để đặt camera. Các biến chứng cũng có thể phát sinh trong lúc bơm khí CO2, bóc tách mô và cầm máu. Một số trường hợp phải chuyển sang mổ hở để xử trí các biến chứng trong quá trình phẫu thuật, một số những biến chứng khác chỉ phát hiện được trong giai đoạn hậu phẫu. Các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mạch máu lớn và thủng ruột có thể rất thảm khốc và là nguyên nhân chính gây ra tàn tật và tử vong của từng phẫu thuật liên quan đến phẫu thuật nội soi.
Phần lớn y văn đề cập về các biến chứng liên quan đến phẫu thuật nội soi được rút ra từ các tài liệu về sản phụ khoa, những nghiên cứu này đã cho chúng ta cái nhìn toàn diện nhất về những biến chứng trong phẫu thuật nội soi. Người ta cho rằng kết quả từ những nghiên cứu này có thể được áp dụng cho các phẫu thuật khác trong ổ bụng và sau phúc mạc, nhưng dù áp dụng ở đâu có thể, chúng ta phải nhận thức rõ rằng kết quả của phẫu thuật nội soi trong phụ khoa, phẫu thuật tổng quát và tiết niệu nên được phân biệt rõ ràng cụ thể cho từng loại phẫu thuật.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 25 Tháng 7 2022 16:21
Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 14 Tháng 7 2022 15:47
Bs Nguyễn Trung Hiếu -
I. TỔNG QUAN:
U nang màng mềm, khác biệt với u nang màng não sau chấn thương (gãy xương sọ đang tiến triển), và không liên quan đến nhiễm trùng. Nang màng nhện (AC) là những tổn thương bẩm sinh phát sinh trong quá trình phát triển do sự phân tách của màng nhện (do đó gọi là nang trong màng nhện) và chứa chất lỏng thường giống với dịch não tủy. Chúng không thông thương với não thất hoặc khoang dưới nhện. Có thể kín hoặc có thể có các vách ngăn.
“Hội chứng lão hóa thùy thái dương” là một tên gọi đã được sử dụng để mô tả những phát hiện về nang màng nhện ở hố sọ giữa. Thuật ngữ này hiện đã lỗi thời vì thể tích não ở mỗi bên thực sự giống nhau.
Có 2 loại mô bệnh học :

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 13 Tháng 7 2022 10:10