• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Điều trị ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn trung gian bằng nút mạch hoá chất (TACE)

  • PDF.

Bs Trần Phúc Huy - 

I. TỔNG QUAN

Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular Carcinoma - HCC) là ung thư xuất phát từ tế bào gan, và là ung thư phổ biến thứ 5 trên thế giới với hơn 500.000 ca chẩn đoán mới mỗi năm. Tỉ lệ ung thư tế bào gan ở châu Á nói chung cũng như Việt Nam nói riêng cao hơn so với các nước phương Tây do nằm trong vùng dịch tễ viêm gan virus.

Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị UTBMTBG như phẫu thuật, điều trị hóa chất, xạ trị ngoài, tiêm cồn vào khối u, nút mạch và nút hóa chất (TACE: Transcartheter Arterial Chemo Embolization), đốt sóng cao tần, thuốc kháng tăng sinh mạch (Sorafenib), xạ trị chiếu trong chọn lọc (SIRT) với hạt vi cầu tải đồng vị phóng xạ Yttrium-90 (Y-90)… Phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu vẫn là điều trị bằng phẫu thuật. Tuy vậy, phần lớn bệnh nhân đến viện thường không có chỉ định phẫu thuật hoặc bệnh nhân từ chối phẫu thuật. Đối với giai đoạn trung gian (Barcelona B), điều trị bằng nút mạch hóa chất (transcatheter arterial chemoembolization – TACE) là phương pháp điều trị ưu tiên được lựa chọn, giúp cải thiện thời gian sống trung bình có thể lên đến 2 năm. TACE được chỉ định đối với bệnh nhân UTBMTBG giai đoạn không thể cắt bỏ hoặc đa u, có chức năng gan tốt, không có tổn thương lan rộng, không xâm lấn mạch hoặc không có huyết khối tĩnh mạch cửa chính.

Mục tiêu của phương pháp can thiệp tại chỗ là gây hoại tử khối u, kiểm soát được sự lan rộng của khối u cũng như đảm bảo nhiều nhất vùng gan lành. Các phương pháp nút mạch hóa chất hiện sử dụng bao gồm nút mạch qua động mạch (transarterial embolization - TAE), hóa trị qua động mạch (transarterial chemotherapy - TAC), nút mạch hóa chất qua động mạch (transarterial chemoembolization - TACE) và nút xạ trị qua động mạch (transarterial radioembolization - TARE).

TACE

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 23 Tháng 8 2024 11:59

Suy giáp trong thai kỳ

  • PDF.

BSCKII. Lê Tự Định - 

NHẬN BIẾT LÂM SÀNG

Tỷ lệ suy giáp và suy giáp dưới lâm sàng trong thai kỳ lần lượt là 0,3-0,5% và 2-3%. Suy giáp trong thai kỳ có thể biểu hiện theo cách cổ điển nhưng thường khó phân biệt với các triệu chứng của thai kỳ bình thường. Do đó, cần phải có dấu hiệu nghi ngờ cao, đặc biệt là ở những phụ nữ có khuynh hướng mắc bệnh tuyến giáp như tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh tuyến giáp, có bướu cổ hoặc mắc đồng thời các rối loạn tự miễn khác như đái tháo đường type 1. Suy giáp dưới lâm sàng (TSH cao với FT4 bình thường) chiếm phần lớn các trường hợp. Giảm thyroxin máu đơn độc (FT4 dưới phạm vi tham chiếu cụ thể của tam cá nguyệt mà không tăng TSH) xảy ra ở số lượng trường hợp tương đương.

BỆNH SINH

Dù tình trạng thiếu iốt cục bộ (những khu vực có nồng độ iốt trong nước tiểu dưới 50µg/lít) là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp trên toàn thế giới, nhưng nguyên nhân chính ở những quần thể thiếu iốt là viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính. Các nguyên nhân khác bao gồm cắt bỏ tuyến giáp sau phẫu thuật hoặc sau xạ trị. Các tác dụng phụ đối với mẹ và con có thể từ thiếu máu khi mang thai đến sảy thai, hoặc nếu tiếp tục mang thai, sinh non kèm theo các hậu quả (bảng 1). Ngay cả ở khu vực đủ iốt, tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp của mẹ (suy giáp, suy giáp dưới lâm sàng hoặc suy giáp do thyroxin) trong thai kỳ cũng dẫn đến suy giảm thần kinh trí tuệ ở trẻ; do đó, hormone tuyến giáp của mẹ là cần thiết trong suốt thai kỳ để não thai nhi phát triển bình thường. Các tác dụng cụ thể sẽ phụ thuộc vào thời điểm thiếu hụt hormone của mẹ trong thai kỳ. Nồng độ hormone tuyến giáp của mẹ thấp trong giai đoạn đầu thai kỳ có thể liên quan đến việc giảm đáng kể chỉ số IQ của trẻ nhỏ. Sự suy giảm đáng kể chỉ số IQ cũng được báo cáo ở trẻ em sinh ra từ những bà mẹ bình thường về tuyến giáp với kháng thể anti TPO lưu hành, nhưng đây vẫn chưa phải là mối liên quan đã được xác lập.

thai suygiap

Xem tiếp tại đây

Cập nhật hướng dẫn của Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA) về hồi sức tim phổi và can thiệp tim mạch khẩn cấp ở người lớn năm 2023

  • PDF.

Bs Đinh Hồng Thảo - 

Bản cập nhật tập trung năm 2023 này cho các hướng dẫn hỗ trợ tim mạch nâng cao (ACLS) của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) về hồi sức tim phổi (CPR) và chăm sóc tim mạch khẩn cấp dựa trên đánh giá của nhóm biên soạn chuyên gia về các tài liệu Đồng thuận về Khoa học với Khuyến nghị điều trị (CoSTR) của Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sức (ILCOR)

Tóm tắt các bằng chứng và các khuyến nghị được công bố gần đây nhất về sử dụng thuốc vận mạch, canxi tiêm tĩnh mạch, kiểm soát nhiệt độ trung tâm, chụp động mạch vành qua da, hồi sức tim phổi ngoài cơ thể, quản lý động kinh sau hồi sức tim phổi và hiến tạng sau ngừng tim

Thuốc vận mạch

Epinephrine đã được đưa ra giả thuyết là có tác dụng có lợi trong quá trình ngừng tim chủ yếu do tác dụng α-adrenergic của nó, dẫn đến tăng áp lực tưới máu mạch vành và não trong quá trình hồi sức tim phổi. Ngược lại, tác dụng β-adrenergic có thể làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim, giảm tưới máu dưới nội tâm mạc và gây rối loạn nhịp tim. 

Epinephrine làm tăng đáng kể sự hồi phục của tuần hoàn tự nhiên (ROSC) và tỉ lệ sống sót ngắn hạn tuy nhiên không có ý nghĩa đáng kể đối với tỉ lệ sống sót dài hạn nhất là > 3 Tháng

HSTP

Đọc thêm...

Đa ối: Bệnh nguyên- Chẩn đoán- Xử trí

  • PDF.

Bs Thái Thị Phương Oanh - 

GIỚI THIỆU

Đa ối (Polyhydramnios hay hydramnios) dùng để chỉ lượng nước ối quá nhiều. Nó liên quan đến việc gia tăng nguy cơ các kết cục thai kỳ bất lợi khác nhau, bao gồm sinh non, nhau bong non và dị tật thai nhi.

Đa ối nên được nghi ngờ trên lâm sàng khi kích thước tử cung lớn hơn so với tuổi thai (chiều cao tử cung [cm] lớn hơn số tuần tuổi thai >3). Chẩn đoán dựa trên siêu âm khi đo thể tích nước ối (AFV) bằng kỹ thuật định lượng không xâm lấn, chẳng hạn như chỉ số ối ≥   24 cm hoặc độ sâu xoang ối lớn nhất ≥ 8 cm.

TỶ LỆ MẮC BỆNH

Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh đa ối dao động từ 1-2%. Tỷ lệ này bị ảnh hưởng nhiều bởi tuổi thai tại thời điểm siêu âm (non tháng cao hơn, quá ngày thấp hơn), quần thể được nghiên cứu (nguy cơ thấp hay cao, khám siêu âm chỉ định trước khi sinh hoặc trong khi sinh), và sự khác nhau trong tiêu chuẩn chẩn đoán ( sử dụng chỉ số ối AFI so với độ sâu xoang ối lớn nhất).

Trong một loạt hơn 93.000 trường hợp mang thai đơn thai kéo dài hơn 6 năm tại một bệnh viện, đa ối được chẩn đoán trong quá trình siêu âm trước khi sinh với tỷ lệ 0,7% và được mô tả với mức độ nhẹ, trung bình hoặc nặng là 66%, 22% và 12%.

daoi

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 24 Tháng 7 2024 20:21

AMH là gì?

  • PDF.

Bs Huỳnh Công - 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gần đây, xu hướng kết hôn và sinh con càng ngày càng muộn. Theo Tổng cục thống kê năm 2022, tuổi kết hôn trung bình lần đầu trên cả nước là 26,9 tuổi (nam 27,3 tuổi, nữ 26,5 tuổi). So với năm 2000, con số này đã tăng 4,8 tuổi đối với nam và 3,3 tuổi đối với nữ. Kèm theo đó, mối lo lắng về hiếm muộn cũng ngày càng tăng. Các chị em phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ kết hôn muộn, mong muốn có một chỉ số dự báo về khả năng sinh sản trong tương lai. Trên các phương tiện truyền thông và các trang mạng xã hội, AMH (Anti-Mullerian Hormone) được đưa ra như một chỉ số dự báo đáng tin cậy về chức năng sinh sản phụ nữ. Tuy nhiên AMH có thật sự hiệu quả, chúng ta cùng tìm hiểu ngay sau đây.

AMH LÀ GÌ?

Từ những năm 1940, A. Jost đã tìm ra một loại Protein, được hình thành trong tinh hoàn của động vật có vú, bao gồm cả con người và khác với testosterone. Nó các nhiệm vụ làm thoái lui ống Mullerian, nên nó được đặt tên là Anti-Mullerian Hormone (AMH) và hơn 40 năm sau thì AMH và các thụ thể của nó mới được phân lập. AMH hay còn gọi là hormone ức chế Mullerian, là một hormone glycoprotein thuộc siêu họ transforming growth factor beta (TGF-β) nó có vai trò chính là định hình giới tính trong thời kỳ bào thai nam giới và điều hòa quá trình chiêu mộ và phát triển nang noãn ở phụ nữ . AMH là một homodimer peptide, có khối lượng phân tử là 140 kDa, bao gồm hai tiểu đơn vị glycoprotein giống hệt nhau, được nối với nhau bởi các cầu nối disulfide. AMH liên kết với thụ thể loại 2 – AMHR2, thụ thể này sẽ phosphoryl hóa thụ thể loại I – AMHR1 theo con đường tín hiệu TGF-β.

amh1

Hình 1. Phân tử AMH liên kết với thụ thể của nó.

(Nguồn: http://www.pymol.org)

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 16 Tháng 7 2024 11:46

You are here Đào tạo Tập san Y học